VỠ TỬ CUNG

VỠ TỬ CUNG

Vỡ tử cung là một tai biến trầm trọng có thể xảy ra vào cuối thời kỳ thai nghén và hay gặp khi chuyến da, gây tử vong cao cho con gần 100% và cho mẹ 10 – 14%

* PHÂN LOẠI

  1. Phân loại theo thời điểm vỡ

– Vỡ tử cung trong thời kỳ thai nghén: loại vỡ từ cung này có các đặc điểm:

+ Tỷ lệ ít gặp và xảy ra trên tử cung đã có sẹo mổ cũ (4% so với tử cung có sẹo cũ).

  • Mổ lấy thai cũ, đặc biệt ở mổ thân tử cung.
  • Sẹo mổ bóc nhân xơ.
  • Sẹo mổ tạo hình tử cung (Strassmann).
  • Sẹo mổ khâu vết thương ở tử cung.
  • Sẹo mổ khâu lại tử cung bị vỡ.

+ Dấu hiệu lâm sàng không rõ nên khó chẩn đoán

  • Triệu chứng dọa vỡ không rõ ràng.
  • Triệu chứng vỡ nhanh chóng và đột ngột.

+ Có thể xảy ra trong 3 tháng cuối và hay gặp trong khi chuyển dạ.

+ Tỷ lệ tử vong con và mẹ cao (vì thường chẩn đoán và xử trí không kịp thời).

– Vỡ tử cung trong thời kỳ chuyển dạ: loại vỡ tử cung này có các đặc điểm:

+ Tỷ lệ cao trên thai phụ đẻ nhiều lần, tử cung kém đàn hồi, cuộc chuyển dạ kéo dài và theo dõi kém, ít xảy ra trên thai phụ đẻ con so.

+ Dấu hiệu lâm sàng rõ vì qua giai đoạn dọa vỡ nên dễ chẩn đoán.

+ Xảy ra trong thời kỳ chuyển dạ nên việc theo dõi thường sát hơn và được xử trí kịp thời hơn.

  1. Phân loại theo yếu tố tác động

– Vỡ tử cung tự nhiên không do can thiệp thủ thuật: Vỡ tử cung tự nhiên có thể xảy ra:

+ Trong thời kỳ có thai.

+ Trong lúc chuyển dạ.

– Vỡ tử cung do can thiệp thủ thuật trong khi chuyển dạ:

+ Nội xoay thai.

+ Cắt thai.

+ Chọc sọ.

+ Giác hút thai.

+ Foóc xép kéo thai.

  1. Phân loại theo tổn thương giải phẫu

– Vỡ tử cung hoàn toàn (gặp 80% trong tổng số vỡ) có đặc điểm:

+ Rách từ niêm mạc, lớp cơ và phúc mạc.

+ Vết rách to có thể từ thân xuống đến cổ tử cung hay đến đoạn dưới và vẹo sang trái (70%) hoặc bên phải.

+ Tổn thương thường ở mặt trước đoạn dưới.

+ Tổn thương gây chảy máu nhiều.

+ Thai nhi bị tống ra khỏi tử cung nằm trong ổ bụng.

– Vỡ tử cung không hoàn toàn có đặc điểm:

+ Rách từ niêm mạc đến lớp cơ, lớp phúc mạc còn nguyên, nên gọi là vỡ tử cung dưới phúc mạc.

+ Vết rách gọn nhỏ.

+ Thai nằm trong tử cung

+ Gây khối máu tụ to lan tràn đến dây chằng rộng.

– Vỡ tử cung gọn trên người có sẹo mổ cũ: có đặc điểm

+ Vết rách gọn nên gọi là toác vết mổ.

+ Ra máu ít.

+ Thai thường bị tống ra nằm trong ở bụng nếu phát hiện muộn.

– Vỡ tử cung phức tạp: có đặc điểm

+ Thể trạng bệnh nhân bị sốc nặng.

+ Vết rách rộng, tổn thương mạch máu, làm chảy máu nhiều.

+ Tổn thương phủ tạng lân cận: bàng quang, dây chẳng.

+ Xử trí khó khăn.

* TRIỆU CHỨNG VÀ CHẨN ĐOÁN

  1. Dọa vỡ tử cung (giai đoạn này thường không gặp trong trường hợp vỡ tử cung trên sẹo mổ cũ)

– Cơn co tử cung dồn dập.

– Đau quằn quại.

– Đáy tử cung bị kéo lên cao và tử cung bị thắt thành hình đồng hồ cát hay quả bầu nậm.

– Xuất hiện vòng Bandl, vòng Bandl lên cao dần.

– Dây chằng tròn căng. Vòng Bandl và dây chi tròn căng tạo thành dấu hiệu Bandl Frommel.

– Thăm âm đạo có thể thấy các nguyên nhân để khỏ

+ Nghe nhịp tim thai thấy rối loạn, thường là châm

  1. Vỡ tử cung

– Các dấu hiêu doa vỡ, đặc biệt cơn đau dồn dập nay dịu đi, mất cơn co tử cung.

– Dấu hiệu sốc:

  • Niêm mạc nhợt nhạt.
  • Vã mồ hôi, khát nước, chân tay lạnh.
  • Mạch nhanh.
  • Huyết áp tụt.

– Không còn thấy tử cung có hình quả bầu nậm nữa.

– Nắn bụng đoạn dưới có cảm ứng phúc mạc và đau.

– Khám không còn thấy ngôi thai, nắn thấy các phần thai nằm ngay ở dưới da bụng.

– Tim thai (-).

– Ra máu tươi ở âm đạo.

* TIÊN LƯỢNG

– Đối với con: thường tử vong.

– Đối với người mẹ: thường rất xấu, có thể bị tử vong, tùy thuộc vào:

+ Thời gian phát hiện và xử trí sớm hay muộn.

+ Tổn thương đơn giản hay phức tạp, làm đứt mạch máu gây chảy máu nhiều hay ít.

+ Điều kiện hồi sức và vận chuyển; xử trí kịp thời tại chỗ, với các phương tiện hồi sức, gây mê tốt là cách tốt nhất (vận chuyển lúc thai phụ mất máu, đang bị sốc càng làm cho thai phụ nặng lên).

* XỬ TRÍ

  1. Hồi sức

Bồi phụ lượng máu mất, nâng huyết áp lên đồng thời với xử trí phẫu thuật càng sớm càng tốt.

  1. Phẫu thuật lấy thai

– Khâu lại vết rách đoạn dưới tử cung nếu:

+ Vết rách không phức tạp.

+ Phát hiện sớm, chưa có dấu hiệu nhiễm trùng.

+ Thai phụ còn trẻ, chưa có con.

– Cắt tử cung bán phần nếu:

+ Thai phụ đã có con.

+ Vết rách phức tạp.

– Trường hợp phát hiện muộn có dấu hiệu nhiễm trùng thì lúc phẫu thuật cần chú ý:

+ Quyết định để lại tử cung hay cất tử cùng tay thuộc vào từng trường hợp cụ thể, đảm bảo được tính mạng cho thai phụ.

+ Lau thật sạch ổ bụng sau khi đã cầm máu và quan sát kỹ tổn thương.

+ Dẫn lưu ở bụng bằng ống cao su to, mềm, để tránh nhiễm trùng ổ bụng sau mổ.

  1. 3. Chống nhiễm trùng sau mổ (nhiễm trùng vết mổ, viêm phúc mạc)

Dùng kháng sinh trước mổ, trong mổ và sau mổ.

* DỰ PHÒNG

Đăng ký thai nghén, khám thai thường xuyên tại xã để phát hiện kịp thời các yếu tố nguy cơ và chuyển ngay lên tuyến trên như:

+ Khung chậu hẹp.

+ Thai to.

+ Mổ cũ.

+ Ngôi kiểu thế bất thường.

Theo dõi sát lúc chuyển dạ để phát hiện những diễn biến bất thường.

– Các thai phụ có sẹo mổ cũ phải vào nằm viện trước đẻ từ 2-3 tuần.

– Chỉ định thủ thuật phải đúng, thực hiện thủ thuật đúng thao tác và phải kiểm tra đoạn dưới tử cung sau khi làm thủ thuật.

– Không nên lạm dụng các thuốc tăng giảm cơn co. Chỉ định dùng thuốc phải đúng và theo dõi sát sau khi dùng thuốc (không được sử dụng trong trường hợp khung chậu hẹp, mổ cũ).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *