HỘI CHỨNG QUÁ KÍCH BUỒNG TRỨNG
Cơ chế bệnh sinh của hội chứng quá kích buồng trứng cho đến nay vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Tuy nhiên, giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là do hậu quả của việc kích buồng trứng quá mức, buồng trứng sản xuất ra các peptid gây tăng sinh mạch máu và tăng tính thấm thành mạch. Dịch nội mạch thoát vào khoang thứ ba của cơ thể dẫn đến các rối loạn chính bao gồm: giảm thể tích nội mạch, cô đặc máu. Từ đó dẫn đến các rối loạn chức năng khác đi kèm.
I. TRIỆU CHỨNG
Hội chứng quá kích buồng chứng có thể bao gồm các triệu chứng sau, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ:
– Tăng cân nhanh do giữ nước, thường trên 5kg, trường hợp nặng có thể tăng đến 15-20kg.
– Hai buồng trứng thường lớn, đau.
– Bụng căng đau. Đây là dấu hiệu thường gặp.
– Tình trạng thoát dịch nội mạch ra các khoang của cơ thể do tăng tính thấm thành mạch, thoát albumin. Quá kích buồng trứng thường có cổ trướng do dịch thoát từ các mạch máu tăng sinh ở buồng trứng và vùng xung quanh. Các trường hợp nặng có thể có tràn dịch màng phổi, màng tim, có thể dẫn đến rối loạn chức năng hô hấp, tuần hoàn. Đa số trường hợp có phù.
– Giảm thể tích nội mạch, mạch nhanh, huyết áp tụt. Bệnh nhân thường có thiếu niệu, nếu nặng có thể dẫn đến vô niệu và suy thận cấp. Hội chứng quá kích buồng trứng cũng có thể có suy chức năng gan.
Cô đặc máu (Hct 45-50%). Triệu chứng này xuất hiện ở hầu hết các trường hợp và là một dấu hiệu đáng tin cậy để tiên lượng và theo dõi bệnh nhân.
– Có thể có rối loạn nước điện giải như tăng K+, giảm Na+… Nhiễm toan nhẹ có thể xảy ra ở một số trường hợp.
– Những trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu, tăng đông. Người ta tìm thấy có sự tham gia của các yếu tố hoạt hóa tiểu cầu.
II. PHÂN LOẠI
Thường được phân thành 3 mức độ:
Độ I- nhẹ
Theo một số thống kê, Hội chứng quá kích buồng trứng nhẹ có thể xuất hiện từ 8- 23% chu kỳ kích thích buồng trứng.
Các triệu chứng thường gặp bao gồm:
– Đau vùng chậu
– Tăng cân ít, khát nước
– Kích thước buồng trứng (trên siêu âm) thường nhỏ hơn 5cm
Nồng độ E2 trong máu tăng. E₂ tăng nhanh khi theo dõi là một dấu hiệu báo động bệnh diễn tiến nặng hơn.
Độ II- trung bình
Xuất hiện trong khoảng 1-7% các chu kỳ kích thích, triệu chứng bao gồm:
– Đau vùng chậu
– Bụng căng, ấn không đau hay đau ít
– Cổ trướng phát hiện trên siêu âm bụng thông thường
– Thường có tăng cân nhanh (> 3kg)
– Kích thước buồng trứng đo được trên siêu âm thường nhỏ hơn 12cm, khi khám bệnh nhân có thể thấy đau nhiều
Có thể có các triệu chứng rối loạn tiêu hoá như đau bụng, nôn, tiêu chảy. Những trường hợp này thường nặng hơn.
Độ III- nặng
Xuất hiện từ 1-4,7% các chu kỳ kích thích buồng trứng. Các triệu chứng có thể gặp:
– Buồng trứng rất lớn khi quan sát trên siêu âm, trên 12 cm và đau.
– Hầu hết bệnh nhân có cổ trướng. Trường hợp báng nhiều bụng căng to, bệnh nhân có triệu chứng khó thở. Khó thở có thể do tràn dịch màng phổi, màng tim. Trường hợp nặng có thể khó thở nhiều và có chèn ép tim, nguy hiểm đến tính mạng.
– Tình trạng giảm thể tích nội mạch và cô đặc máu có thể nặng, dẫn đến vô niệu, sốc. Hematocrit tăng rất cao, có thể đến 50-55%. Rối loạn nước điện giải cũng thường gặp.
Phân độ chỉ có tính chất tương đối, vì trên một bệnh nhân có thể xuất hiện nhiều triệu chứng khác nhau của các mức độ. Hơn nữa, diễn tiến bệnh đôi khi phức tạp khó phân độ rõ ràng. Do đó điều quan trọng là phải đánh giá đúng các mức độ rối loạn về sinh lý bệnh và chức năng để theo dõi và điều trị thích hợp.
III. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG QUÁ KÍCH BUỒNG TRỨNG
Hai buồng trứng to, sung huyết, rất dễ vỡ, gây xuất huyết nội nặng, rất nguy hiểm. Do đó nên thận trọng khi thăm khám. Nguy cơ xoắn buồng trứng cao vì hai buồng trứng to. Vỡ buồng trứng và xoắn buồng trứng là hai biến chứng nặng đòi hỏi phải can thiệp bằng ngoại khoa.
Truy tim mạch có thể xảy ra do giảm thể tích tuần hoàn nghiêm trọng, huyết tắc hay do chèn ép tim. Vô niệu, suy thận cấp do giảm lưu lượng máu đến thận. Bệnh nhân cần được theo dõi sát để can thiệp kịp thời. Suy gan có thể xảy ra ở những trường hợp nặng, tuy nhiên ít gặp.
Huyết tắc có thể xảy ra bất cứ nơi nào, thường là nặng, nhưng ít gặp. Các yếu tố nguy cơ gây huyết tắc bao gồm cô đặc máu nặng, E2 cao, yếu tố hoạt hoá tiểu cầu.
IV. ĐIỀU TRỊ
Trong đa số trường hợp, việc điều trị tương đối đơn giản, bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, không để lại di chứng.
Bác sĩ điều trị cần nắm vững sinh lý bệnh của các rối loạn cơ bản của hội chứng quá kích buồng trứng. Nguyên tắc điều trị là điều trị triệu chứng và bảo tồn, hạn chế tối đa các can thiệp không cần thiết có thể làm nặng và phức tạp thêm tình trạng của bệnh nhân. Nếu theo dõi và điều trị tốt, bệnh nhân sẽ hồi phục hoàn toàn sau 7- 10 ngày (nếu không có thai) hay 10-20 ngày (nếu có thai). Theo dõi buồng trứng bằng siêu âm trên các bệnh nhân đã hồi phục cho thấy buồng trứng và các nang trở về kích thước bình thường sau 20-40 ngày. Ở những chu kỳ sau, buồng trứng hoàn toàn có khả năng sinh noãn bình thường.
Chiến lược theo dõi và điều trị tuỳ thuộc mức độ nặng nhẹ của hội chứng. Đa số không cần nhập viện, chỉ cần theo dõi tại nhà.
- Thể nhẹ
Chỉ cần theo dõi tại nhà, không can thiệp
- Thể trung bình
Bệnh nhân cần nghỉ ngơi, theo dõi sát bằng siêu âm để đánh giá 2 buồng trứng và dịch ổ bụng. Nếu có tình trạng cô đặc máu nhiều, thiểu niệu nhẹ, có thể bù thể tích nếu cần, sử dụng lactat, dung dịch cao phân tử hay albumin. Phát hiện các triệu chứng chuyển nặng để theo dõi sát và xử trí kịp thời là yếu tố quan trọng nhất. Các triệu chứng chuyển nặng bao gồm triệu chứng lâm sàng như mô tả tiếp tục gia tăng, tăng cân nhiều, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó thở. Nếu có các triệu chứng trên, nên cho bệnh nhân nhập viện và theo dõi sát.
- Thể nặng
Việc theo dõi và điều trị bệnh nhân nặng bao gồm các phần quan trọng sau: các xét nghiệm cần theo dõi như Hct, BUN, creatinin, ion đồ, ECG, tỉ lệ Alb/Glo, chức năng gan, duy trì thể tích tuần hoàn, cân bằng điện giải, điều trị triệu chứng và ngừa thuyên tắc mạch khi cần thiết. Nếu tràn dịch màng bụng, màng phổi nhiều có thể chọc tháo giải áp.
- Theo dõi sau điều trị
Nếu bệnh nhân có các dấu hiệu sau đây, chứng tỏ bệnh sẽ không diễn tiến nặng hơn, bệnh nhân sẽ vào giai đoạn hồi phục: triệu chứng lâm sàng giảm, siêu âm thấy các nang noãn nhỏ đi, Hct giảm, nước tiểu tăng. Lúc này có thể cho bệnh nhân về tiếp tục theo dõi ở nhà nếu điều kiện bệnh nhân cho phép.
- Yếu tố nguy cơ
Các phụ nữ sử dụng các thuốc kích thích buồng trứng sẽ có nguy cơ cao bị hội chứng quá kích buồng trứng nếu có một trong các yếu tố sau:
– Trẻ tuổi.
– Nhẹ cân.
– Có tiền căn quá kích buồng trứng ở các chu kỳ điều trị trước. Tuy nhiên đáp ứng thuốc có thể thay đổi tuỳ theo chu kỳ.
– Buồng trứng dạng đa nang hay hội chứng buồng trứng đa nang
– Nồng độ E2 trong máu cao, số nang noãn trên siêu âm nhiều.
– Có sử dụng HCG trong phác đồ kích thích.
– Có thai sau chu kỳ điều trị.
Cần chú ý theo dõi sát các phụ nữ nói trên và dự phòng để giảm nguy cơ quá kích buồng trứng.
- Điều trị dự phòng
Điều trị dự phòng là yếu tố quan trọng nhất để làm giảm tỉ suất mắc của hội chứng quá kích buồng trứng trên những phụ nữ đã sử dụng các phác đồ kích thích buồng trứng. Các điểm cần lưu ý và các nguyên tắc của điều trị dự phòng bao gồm:
Biết các yếu tố nguy cơ để thận trọng, theo dõi sát.
Sử dụng thuốc liều thấp đối với các bệnh nhân trẻ, nhẹ cân, có buồng trứng đa nang.
Nếu E₂ quá cao (> 3500-4000pg/ml) hay quá nhiều nang (> 35 nang) nên cho ngưng chu kỳ, không nên tiếp tục tiêm HCG. Chọc hút dịch nang có thể làm giảm nguy cơ quá kích buồng trứng.
Sử dụng HCG liều thấp với những trường hợp có nguy cơ QKBT.
Sử dụng progesteron để hỗ trợ giai đoạn hoàng thể, không dùng HCG nếu có nguy có quá kích buồng trứng hay E₂ quá cao.
V. KẾT LUẬN
Hội chứng quá kích buồng trứng là một biến chứng thường gặp trong các chu kỳ kích thích buồng trứng khi thực hiện các biện pháp sinh sản có trợ giúp. Trong đa số trường hợp bệnh nhẹ và tự hồi phục, tuy nhiên người ta vẫn ghi nhận một số trường hợp tử vong.
Các trường hợp nặng cần được theo dõi chăm sóc tích cực. Nguyên tắc điều trị là điều trị triệu chứng và bảo tồn. Yếu tố quan trọng nhất trong điều trị là đánh giá mức độ để có chiến lược điều trị thích hợp.
