SỰ SINH NOÃN

SỰ SINH NOÃN

Sinh noãn là một quá trình phức tạp, xảy ra ở buồng trứng, bao gồm sự hình thành, phát triển và trưởng thành của noãn. Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn phôi thai, tiếp tục duy trì đến sau khi sinh và hoạt động nhịp nhàng thành chu kì từ tuổi dậy thì. Trong quá trình sinh noãn, có sự phát triển đan xen, hỗ trợ của ba thành phần: noãn, nang noãn và buồng trứng. Nang noãn được xem là đơn vị cơ bản trong sinh lý sinh sản nữ, mỗi nang noãn có chứa một noãn. Các nang noãn nằm vùi trong mô kẽ phần vỏ của buồng trứng. Trong độ tuổi sinh sản, mỗi chu kì kinh nguyệt sẽ có một noãn được phóng thích từ một nang noãn trưởng thành. Để đảm bảo được chức năng tạo ra noãn ở độ tuổi trưởng thành, noãn, nang noãn và buồng trứng phải trải qua nhiều quá trình phát triển khác nhau.

Lần lượt cấu tạo và chức năng buồng trứng, các quá trình phát triển của noãn, nang noãn nhờ vào hoạt động nội tiết ở trục hạ đổi – tuyến yên – buồng trứng, hoạt động sinh noãn ở buồng trứng sẽ được trình bày.

TỔNG QUAN VỀ CẤU TẠO BUỒNG TRỨNG

Buồng trứng được bao bọc bởi một bó cơ riêng được gọi là mạc treo buồng trứng, mạc treo buồng trứng xuất phát từ lá sau của dây chẳng rộng và dính đầu bên kia của mạc treo buồng trứng được cố định vào sừng tử cung bằng dây chằng của buồng trứng.

Mặt cắt ngang của buồng trứng có thể thấy rõ buồng trứng được chia thành hai vùng rõ rệt, được gọi là vùng tủy và vùng vỏ. Vùng vỏ chứa tất cả các nang noãn nguyên thuỷ và được đan xen bao quanh bởi các tế bào hạt. Vùng tủy có chứa nhiều mạch máu, các nang tiền hốc và nang có hốc.

Chu kì của buồng trứng

Chu kì buồng trứng có thể dự đoán được trong tế bào noãn và nang noãn của phụ nữ. Trong thời kì sinh đẻ của người phụ nữ, chu kì đó thường khoảng 28 ngày, có thể có tương quan giống như chu kì kinh nguyệt. Chu kì này bao gồm hai quá trình liên quan đến nhau: oogenesis (sản sinh giao tử cái) và folliculogenesis (tăng trưởng và phát triển của nang buồng trứng).

SỰ HÌNH THÀNH VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA NOÃN

Quá trình sinh noãn bắt đầu từ rất sớm trong sự phát triển của bào thai và chấm dứt khi mãn kinh. Sự sinh noãn được chia làm 4 giai đoạn: (1) sự hình thành và di chuyển của tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ vào cơ quan sinh dục; (2) tăng số lượng tế bào bằng nguyên phân; (3) giảm chất liệu di truyền bằng giảm phân và (4) trưởng thành về cấu trúc và chức năng của noãn.

Sự hình thành và di chuyển của tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ vào cơ quan sinh dục

Sự sinh sản của loài người có liên quan đến giới tính. Vào thời điểm thụ tinh, một noãn và một tinh trùng có bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n) kết hợp với nhau tạo nên hợp tử có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n). Do đó, tương tự như sự sinh tinh, trong sự sinh noãn, các tế bào phải trải qua quá trình nguyên phân, sau đó là giảm phân để làm giảm đi một nửa số chất liệu di truyền. Quá trình giảm phân của sự sinh noãn bắt đầu diễn ra trong giai đoạn phôi thai và kéo dài đến tuổi trưởng thành. Các tế bào mầm sinh dục đầu tiên là những tế bào lưỡng bội, được gọi là các tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ. Những tế bào này xuất hiện đầu tiên ở thành túi noãn hoàng vào khoảng cuối tuần thứ 3 sau khi thụ tinh.

Vào khoảng tuần thứ 5, đôi tuyến sinh dục bắt đầu xuất hiện ở trung thận, hình thành nên gờ sinh dục. Gờ sinh dục là nơi duy nhất các tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ có thể sống sót. Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 6, bắt đầu có sự di chuyển của tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ từ thành túi noãn hoàng đến gờ sinh dục. Đến cuối tuần thứ 6, từ vài trăm tế bào mắm sinh dục nguyên thuỷ ban đầu, trải qua quá trình nguyên phân, tổng số tế bào vào thời điểm này vào khoảng 10.000 tế bào. Trong quá trình di chuyển, một số tế bào mẩm không đến được gờ sinh dục, đa số các tế bào này sẽ chết đi. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp, các tế bào mắm tiếp tục phát triển, tạo nên u tế bào mầm.

Tăng số lượng tế bào bằng nguyên phân

Từ tuần thứ 6 đến tuần 16 – 20, hoạt động nguyên phân của các tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ được tiếp tục. Các tế bào mầm nguyên thuỷ đang nguyên phân ở cơ quan sinh dục được gọi là nguyên bào noãn. Cũng như các tế bào mầm sinh dục nguyên thuỷ, các nguyên bào noãn có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội, chứa 23 đôi nhiễm sắc thể (gồm 46 nhiễm sắc thể). Nhờ vào quá trình nguyên phân, số lượng các nguyên bào noãn tăng dần, khoảng 600.000 tế bào vào tuần thứ 8 và 7 triệu tế bào vào tuần thứ 20

Giảm chất liệu di truyền bằng giảm phân

Từ tuần thứ 8, quá trình phân chia giảm phân bắt đầu để tạo ra các noãn bào có n nhiễm sắc thể. Các nguyên bào noãn được gọi là noãn sơ cấp khi bắt đầu bước vào giảm phân. Khi các nguyên bào noãn bước vào giảm phân, chúng không còn khả năng nguyên phân nữa, do đó, không thể tiếp tục tăng thêm số lượng. Điều này rất quan trọng vì đối với phụ nữ, toàn bộ nguyên bào noãn sẽ chuyển thành noãn trước khi được sinh ra. Như vậy, người phụ nữ sẽ bắt đầu độ tuổi sinh sản với một số noãn đã được định trước từ khi sinh ra và không thể tăng thêm cho đến khi mãn kinh.

Ngay sau khi kết thúc lần nguyên phân sau cùng, nguyên bào noãn nhân đôi số lượng Myly SonicMaster nhiễm sắc thể và bước vào giảm phân. Giảm phân gồm có hai lần phân chia: giảm phân I và giảm phân II. Kết quả của lần phân chia thứ nhất tạo ra 2 tế bào có bộ nhiễm sắc thể đơn bội kép (n kép). Lần phân chia thứ hai tương tự như nguyên phân, tạo ra 2 tế bào có bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n đơn). Trong sự sinh noãn, kết thúc giảm phân I, 1 noãn sơ cấp tạo ra 1 noãn thứ cấp và thể cực thứ nhất.

Quá trình giảm phân trong sự sinh noãn ở người rất dài và có hai giai đoạn nghỉ. Giai đoạn nghỉ thứ nhất xảy ra khi noãn sơ cấp bước vào pha diplotene của kì trước giảm phân I. Lúc này, các nhiễm sắc thể của tế bào đang được bao quanh bởi một lớp màng, hình thành nên một cấu trúc gọi là germinal vesicle (noãn GV).

Cho đến khi được sinh ra, buồng trứng của các bé gái chỉ chứa noãn GV. Các noãn GV chỉ vượt qua giai đoạn nghỉ này và tiếp tục phân chia khi có đỉnh LH. Do đó, giai đoạn nghỉ đầu tiên có thể kéo dài từ 12 đến 50 năm. Giai đoạn nghỉ thứ hai xảy ra vài giờ sau đỉnh LH, ở kì giữa của giảm phân II tạo thành noãn MII. Noãn trưởng thành và có phóng noãn là noãn MII. Noãn MII chỉ vượt qua giai đoạn nghỉ khi có sự thụ tinh với tinh trùng

Sự trưởng thành của noãn

Giai đoạn nghỉ thứ nhất có thể kéo dài từ 12 đến 50 năm. Đây là giai đoạn noãn sơ cấp chuẩn bị cho nhu cầu của phôi với sự tổng hợp RNA, giải mã tích cực cũng như sự tích tụ của các bào quan như các hạt vỏ, ribosome, ti thể. Kết quả là noãn sơ cấp lớn lên rõ rệt qua kì trước của giảm phân I: từ 19 mm ở pachytene tăng lên 35 mm ở diplotene và không lớn lên nữa. Quá trình trưởng thành noãn gồm sự trưởng thành nhân và sự trưởng thành bào tương.

Sự trưởng thành nhân của noãn

Khi mới sinh sự phân chia nhiễm sắc thể trong nhân của noãn trong buồng trứng bị dừng lại ở kì trước giảm phân I. Giai đoạn này cấu trúc noãn được đặc trưng bởi sự hiện diện của một túi nhân nguyên chất (GV). Khi đến tuổi dậy thì, sự xuất hiện đỉnh LH trước phóng noãn là tín hiệu tái khởi động giảm phân noãn GV. Sự trưởng thành nhân của noãn gồm 6 sự kiện chính

  1. Sự tái khởi động của giảm phân I, bắt đầu bởi màng bao của túi nhân (GV) vỡ ra giải phóng các nhiễm sắc thể vào bào tương gọi là GVBD (Germinal vesicle breakdown)
  2. Sự nén lại của nhiễm sắc chất
  3. Sự hình thành thoi vô sắc
  4. Sự phân ly và kết tập của nhiễm sắc thể
  5. Sự phân tách tế bào một cách không đồng đều tạo ra một noãn lớn và một thể cực nhỏ
  6. Sự dừng lại của noãn ở giai đoạn trung kì giảm phân II

Sự trưởng thành bào tương của noãn

Sự trưởng thành bào tương noãn gồm sự tái sắp xếp vị trí các bào quan, sự tổng hợp và điều chỉnh của protein và RNA thông tin, sự dự trữ và tái hoạt hoá các phản ứng hoá sinh của các phân tử nhằm cung cấp chất liệu cần thiết cho sự thành công của thụ tinh, hình thành nhân, sự phát triển phôi và làm tổ. Một số sự kiện quan trọng trong trưởng thành tế bào chất đã được nghiên cứu và ghi nhận. Sự hình thành của các hạt vỏ từ các phức hợp Golgi và sự di chuyển của các thể này đến rìa noãn, ngay dưới màng bào tương noãn là một bước quan trọng trong sự trưởng thành noãn nhằm ngăn chặn hiện tượng đa thụ tinh. Sự tái phân bố hệ thống lưới nội chất và thụ thể inositol-triphosphate (IP3) cho phép noãn có khả năng giải phóng canxi đáp ứng với kích thích của tinh trùng thụ tinh nhằm hoạt hoá noãn. Nồng độ glutathione tăng ngăn ngừa sự tháo nén của tinh trùng tạo điều kiện cho sự hình thành tiền nhân của tinh trùng bên trong noãn thụ tinh. Trưởng thành nhân và bào tương luôn phối hợp chặt chẽ với nhau. Có đôi khi đã trưởng thành nhân nhưng noãn chưa trưởng thành bào tương hoàn toàn dẫn tới thiểu các yếu tố cần thiết cho sự thụ tinh, hình thành tiền nhân và phát triển phôi.

Sự thoái hoá của noãn

Từ tuần thứ 8, các nguyên bào noãn bị ảnh hưởng bởi ba quá trình: nguyên phân, giảm phân và thoái hoá. Kết quả của cả ba quá trình này, vào khoảng tuần thứ 20, các nguyên bào noãn đạt được số lượng tối đa vào khoảng 7 triệu tế bào. Trong giai đoạn này, có khoảng 2/3 số lượng tế bào đang trong quá trình giảm phân và 1/3 tế bào vẫn là các nguyên bào noãn. Các noãn đang trong quá trình giảm phân có thể được bảo vệ khỏi quá trình thoái hoá. Người ta nhận thấy, sau tháng thứ 7, các nguyên bào noãn chưa bước vào giảm phân sẽ bị thoái hoá. Quá trình thoái hoá của noãn diễn ra nhanh nhất vào khoảng tháng thứ 5 của thai kì. Hiện tượng này có thể được gây ra bởi sự thiếu hụt của các yếu tố kit ligand, LIF, hay sự chế tiết của TGF, activin

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NANG NOÃN

Sự hình thành nang noãn

Vào tuần 18 – 20 của thai kì, sự hình thành nang noãn bắt đầu bởi hiện tượng xâm nhập của các mạch máu vào vùng vỏ buồng trứng, đi cùng với mạch máu là những tế bào quanh mạch máu có nguồn gốc từ trung mô hay biểu mô. Những tế bào lát dẹt tạo thành một lớp bao xung quanh tất cả các noãn GV, gọi là các tiền tế bào hạt, kết quả là các nang noãn nguyên thuỷ được hình thành (đường kính từ 30 – 60 µm). Những tế bào trung mô còn lại tạo nên mô đệm của buồng trứng nguyên thuỷ.

Sự chuyển tiếp từ nang noãn nguyên nguyên thuỷ thành nang noãn tiền hốc

Biểu hiện sớm nhất của sự phát triển từ nang noãn nguyên thuỷ thành nang noãn tiền hốc là sự gia tăng về kích thước. Phần lớn sự gia tăng kích thước này là do noãn sơ cấp chứa bên trong nang noãn tiền hốc cũng lớn dần lên, sự thay đổi hình dạng của tế bào hạt từ lát dẹt thành khối vuông cũng như sự nhân lên thành nhiều lớp của tế bào hạt. Sự gia tăng kích thước của noãn sơ cấp là biểu hiện của sự gia tăng tổng hợp ribosome và mRNA cần thiết cho tổng hợp protein trong quá trình trưởng thành bào tương của noãn sau này. Song song với gia tăng kích thước của noãn và sự thay đổi hình dạng của tế bào hạt, nang noãn cũng tăng kích thước do sự hình thành của lớp tế bào vỏ có nguồn gốc từ mô đệm buồng trứng.

Trong giai đoạn này, noãn bắt đầu chế tiết glycoprotein, tạo thành một lớp màng phân cách giữa noãn và các tế bào hạt xung quanh, gọi là màng trong suốt. Màng trong suốt dày khoảng 15 – 20 µm, được hình thành bởi một mạng lưới ba loại glycoprotein, được gọi là Zp1, Zp2, Zp3 (trọng lượng phân tử lần lượt là 200, 120 và 83). Tuy nhiên, vẫn có mối liên hệ giữa các tế bào hạt với nhau, giữa tế bào hạt với noãn thông qua các liên kết khe và các vi nhung mao của noãn. Vì các tế bào hạt đóng vai trò quan trọng trong dinh dưỡng cho noãn, khi màng trong suốt được hình thành, thông qua các liên kết khe và vi nhung mao này, các tế bào hạt có thể cung cấp cho noãn các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển và trưởng thành.

Nang noãn có hốc được đặc trưng bởi cấu trúc nang của nó, noãn bào được bao quanh bởi nhiều lớp tế bào hạt. Cùng với sự gia tăng về số lượng của tế bào hạt, một chất dịch lỏng sáng màu xuất hiện, tập trung ngày càng nhiều ở các khoảng gian bào làm cho các khoảng này càng lúc càng rộng ra hình thành các hốc có kích thước to nhỏ khác nhau. Các hốc ngày càng lớn, thông với nhau thành những hốc lớn hơn và cuối cùng thành một hốc duy nhất rất lớn. Chất dịch trong các hốc gọi là dịch nang. Dịch nang có nguồn gốc một phần từ tế bào hạt, một phần từ dịch thấm huyết thanh. Dịch nang giúp hỗ trợ cho sự phóng thích noãn và lớp tế bào hạt xung quanh trong quá trình phóng noãn, đồng thời là phương tiện giúp trao đổi chất dinh dưỡng cho nang noãn. Lớp tế bào hạt vây quanh noãn tạo thành một cái ụ gọi là gò noãn.

Từ giai đoạn này trở đi, sự gia tăng kích thước nang noãn chủ yếu là do sự phát triển của dịch nang và sự gia tăng số lượng của tế bào hạt. Lúc này noãn tiếp tục lớn lên và vẫn đang ở giai đoạn GV. Khi đường kính của noãn đạt 100µm thì nó không lớn thêm nữa. Trong giai đoạn nang noãn có hốc, lớp vỏ liên kết bọc ngoài nang noãn đã phân làm hai lớp rõ rệt: lớp vỏ trong và lớp vỏ ngoài. Lớp vỏ trong chứa nhiều mao mạch và những tế bào dạng biểu mô đa diện gọi là tế bào vỏ nằm sát các mao mạch. Lớp vỏ ngoài là một lớp liên kết, chứa nhiều tế bào liên kết và sợi liên kết.

Nang noãn trưởng thành

Càng tiến về giữa chu kì kinh, các nang noãn có hốc tiếp tục phát triển. Dịch trong nang tiếp tục tăng lên ép các tế bào hạt chèn vào màng đáy. Lượng dịch tăng xoắn dần vào đám cumulus bao quanh noãn làm cho nó lỏng lẻo hơn. Một vài giờ trước khi rụng trứng, dưới tác dụng của đỉnh LH, nhân noãn di chuyển đến sát màng bào tương bao bọc noãn và tiếp tục lẫn phân chia thứ nhất của quá trình giảm phân

Sự phát triển của nang noãn

Một chu kì phát triển của nang noãn bao gồm một chuỗi các sự kiện xảy ra một cách có trật tự: chiêu mộ các nang noãn, chọn lọc các nang noãn, vượt trội của một nang noãn, trưởng thành và phóng noãn. Phần lớn sự phát triển nang noãn trong thời gian này không phụ thuộc vào sự điều hòa nội tiết. Tuy nhiên, trong khoảng 10 – 14 ngày cuối cùng, với hàng loạt các hoạt động nội tiết, cận và tự tiết của nang noãn, một nang noãn phát triển từ giai đoạn nang noãn có hốc, trưởng thành và sau cùng là phóng noãn.

Sự chọn lọc nang noãn

Vào khoảng ngày 7 của chu kì kinh, một số nang noãn có nhiều thụ thể FSH trên tế bào hạt và chế tiết nhiều estradiol hơn trong số các nang noãn có hốc sẽ được chọn lọc để chuẩn bị cho sự phóng noãn sau này. Cơ chế của quá trình này chưa được hiểu rõ.

Sự vượt trội của một nang noãn

Khoảng ngày 8 – 10 của chu kì kinh, nồng độ estrogen trong máu bắt đầu tăng lên do sự xuất hiện của một nang noãn đã được chọn lọc nhưng phát triển vượt trội hơn các nang noãn khác. Nồng độ estrogen tăng (và nồng độ inhibin tăng) có tác dụng phản hồi âm tính lên sự chế tiết FSH của tuyến yên, làm giảm nồng độ FSH trong máu. Hiện tượng này làm cho các nang noãn khác kém phát triển hơn thiếu FSH, giảm khả năng chế tiết estrogen dẫn đến tăng tích lũy androgen và cuối cùng là bị thoái hoá. Người ta nhận thấy, khi nồng độ FSH trong máu tăng lên khoảng 20 mIU/mL, đánh dấu hiện tượng vượt trội của nang noãn bắt đầu, kéo theo sự gia tăng nồng độ của estrogen. Khi nang vượt trội đã xuất hiện rõ, nồng độ FSH sẽ giảm xuống 10 mIU/mL trong khoảng 5 ngày, trong khi nồng độ estrogen tiếp tục tăng. Điều này chứng tỏ, nang vượt trội nhạy hơn với FSH, có khả năng tiếp tục phát triển khi nồng độ FSH giảm trong khi các nang kém trưởng thành hơn sẽ bị thoái hoá. Cũng trong giai đoạn này, dưới tác dụng của FSH, các thụ thể của LH bắt đầu xuất hiện trên tế bào hạt. Như vậy, trong giai đoạn sớm của nang noãn có hốc, tế bào hạt chỉ chịu tác dụng của FSH, trong khi ở các nang noãn có hốc đã được kích thích bởi FSH, tế bào hạt có thể đáp ứng với cả FSH và LH. Đây cũng có thể là một cách giải thích cho hiện tượng ít phụ thuộc vào FSH của nang vượt trội

Sự trưởng thành và phóng noãn

Vào ngày 14 của chu kì kinh, nang noãn đạt kích thước tối đa, khoảng 20 – 25 mm do sự gia tăng của thể tích dịch nang. Cũng như trong giai đoạn chọn lọc và vượt trội, nang noãn trưởng thành phụ thuộc vào nội tiết của tuyến yên, cần có đỉnh LH để phóng noãn, nếu không sẽ bị thoái hoá. Dưới tác dụng của đỉnh LH, noãn bào bắt đầu quá trình trưởng thành của nhân và bào tương, tiếp tục giảm phân tạo ra noãn thứ cấp MII. Đồng thời, đỉnh LH cũng giúp thay đổi toàn bộ quá trình chế tiết nội tiết của nang noãn, giúp nang noãn sau phóng noãn trở thành hoàng thể. Phóng noãn là một quá trình mà thông qua đó một noãn trưởng thành được giải phóng từ một nang noãn. Ước tính thời gian trung bình phóng noãn là 34 – 38 giờ sau đỉnh LH. Tuy nhiên nồng độ đỉnh LH phải được duy trì ít nhất trong 14 – 27 giờ để đảm bảo cho sự trưởng thành của noãn. Thông thường, đỉnh LH kéo dài trong 48 – 50 giờ.

Trước phóng noãn, đỉnh LH làm thay đổi sự tổng hợp các nội tiết sinh dục. Khoảng hai giờ- sau khi bắt đầu đỉnh LH, nang noãn trưởng thành có tăng nhẹ tổng hợp estrogen và androgen, sau đó, bắt đầu giảm xuống. Tế bào hạt không còn tổng hợp estrogen từ androgen mà thay vào đó là tổng hợp progesterone. Đây là nét đặc trưng của sinh sản người do có sự phóng thích của progesterone vài giờ trước phóng noãn.

Sự gia tăng về kích thước của nang trưởng thành trước phóng noãn do tăng thể tích của dịch nang làm nang trưởng thành trồi lên bề mặt buồng trứng. Lớp vỏ buồng trứng trở nên rất mỏng, mô liên kết vỡ và hiện tượng phóng noãn xảy ra. Dịch nang cùng với noãn và các tế bào hạt quanh noãn được phóng thích khỏi buồng trứng. Người ta cho rằng progesterone làm gia tăng hoạt động của men ly giải, cùng với prostaglandin làm vỡ các thành nang noãn.

Sự thoái hoá của nang noãn

Hiện tượng thoái hoá nang noãn bắt đầu ngay khi nang noãn được hình thành, từ tuần 18 – 20 của thai kì. Sau tuổi dậy thì, trong giai đoạn đầu của chu kì kinh nguyệt, sự gia tăng của nồng độ FSH giúp một số nang noãn tiếp tục phát triển, thoát khỏi hiện tượng thoái hoá. Tuy nhiên, ngay sau đó, sự sụt giảm của nồng độ FSH do sự xuất hiện của nang vượt trội làm hàng loạt nang đã được chọn lọc bị thoái hoá, để cuối cùng chỉ có nang vượt trội phát triển đến mức trưởng thành. Trong suốt đời sống sinh sản của một phụ nữ, chỉ có khoảng 450 nang noãn được phóng noãn, và 250.000 nang noãn sẽ bị chết đi. Sự thoái hoá hay tồn tại của nang noãn phụ thuộc vào sự cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ

HOẠT ĐỘNG SINH NOÃN Ở BUỒNG TRỨNG NGƯỜI PHỤ NỮ

Thời kì bào thai

Trong bào thai, từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 sau khi thụ tinh, đây được gọi là giai đoạn chưa biệt hoá của tuyến sinh dục, chưa thể phân biệt được buồng trứng và tinh hoàn. Từ tuần thứ 6 – 8, do không có sự hiện diện của yếu tố phát triển tính hoàn (TDF – Testis- determining Factor), những dấu hiệu biệt hoá đầu tiên của buồng trứng xuất hiện và được đánh dấu bằng quá trình nguyên phân rất nhanh của các tế bào mầm. Tuy nhiên, cho đến khi bé gái được sinh ra, các nguyên bào noãn không hoàn tất quá trình giảm phân một cách hoàn toàn mà dừng lại ở kì trước của giảm phân I. Vào khoảng tuần 18 – 20, quá trình hình thành nang noãn bắt đầu với sự xâm nhập của các kênh mạch máu vào vùng vỏ buồng trứng. Ngay cả trong giai đoạn bào thai, ta có thể quan sát thấy nang noãn ở các giai đoạn phát triển khác nhau; tuy nhiên, không có sự trưởng thành toàn diện của nang noãn, biểu hiện bằng sự phóng noãn trong giai đoạn này.

Thời kì trước khi dậy thì

Khi sinh ra, buồng trứng của bé gái chứa khoảng 1 – 2 triệu noãn. Từ khi sinh ra đến trước khi dậy thì, lượng gonadotropin được tiết ra từ tuyến yên và lưu hành trong máu luôn thấp, vùng hạ đồi bị ức chế. Tuy nhiên, vẫn có sự phát triển của nang noãn trong giai đoạn này. Nang noãn có thể phát triển đến nang có hốc, nhưng không đạt được sự trưởng thành toàn vẹn về mặt cấu trúc và chức năng.

Thời kì sinh sản

Ở tuổi dậy thì, dưới tác dụng của nội tiết – GnRH được chế tiết theo xung, tác động lên tuyến yên làm tăng chế tiết các gonadotropin – buồng trứng bắt đầu bước vào hoạt động có chu kì, bao gồm phát triển nang noãn, phóng noãn, hình thành hoàng thể và thoái triển hoàng thể. Vào giai đoạn này, có khoảng 300.000 đến 500.000 nang noãn nguyên thuỷ. Trong suốt đời sống sinh sản của người phụ nữ kéo dài từ 35 – 40 năm, sẽ có khoảng 400 – 500 noãn được phóng noãn, số còn lại sẽ bị chết đi trong quá trình phát triển. Trong khoảng 10 – 15 năm trước mãn kinh, sự thoái hoá nang noãn diễn ra nhanh hơn do sự tăng nồng độ của FSH. Khi người phụ nữ càng tiến gần đến tuổi mãn kinh, số nang noãn phát triển trong mỗi chu kì càng ít đi, chu kì kinh ngày càng ngắn lại do nang noãn phát triển nhanh hơn trước khi phóng noãn và sau đó chu kì kinh kéo dài ra do ngày càng có nhiều chu kì không phóng noãn.

Thời kì mãn kinh

Buồng trứng của người phụ nữ mãn kinh không còn nang noãn. So với nồng độ nội tiết trong độ tuổi sinh sản, nồng độ FSH tăng 10 – 20 lần, LH tăng khoảng 3 lần từ 1 – 3 năm sau mãn kinh. Sau đó, nồng độ hai chất này giảm từ từ theo thời gian. Lúc này, estrogen hiện diện trong máu ở phụ nữ mãn kinh không có nguồn gốc từ buồng trứng mà do sự chuyển đổi từ androstenedione và testosterone. Hoạt động nội tiết chủ yếu của buồng trứng người phụ nữ mãn kinh là chế tiết androstenedione và testosterone. Đa số lượng androstenedione từ tuyến thượng thận, một lượng nhỏ có nguồn gốc từ buồng trứng. Với testosterone, lượng chế tiết giảm đi khoảng 25% sau mãn kinh. Tuy nhiên, lượng testosterone được chế tiết trực tiếp từ buồng trứng lại tăng lên so với trước mãn kinh do không có sự hiện diện của nang noãn kết hợp với sự gia tăng nồng độ của gonadotropin trong giai đoạn này

KẾT LUẬN

Sự sinh noãn, nang noãn và sự phát triển của buồng trứng là các quá trình phát triển gần như song song và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau từ giai đoạn phôi thai đến hết tuổi sinh sản của một phụ nữ. Trong đó, ở mỗi giai đoạn có các nét đặc trưng riêng, rất khác nhau nhưng cùng hướng đến mục tiêu cuối cùng là phóng thích được một noãn trưởng thành đầy đủ về cấu trúc và chức năng, sản sàng hỗ trợ cho sự thụ tinh và phát triển phôi (nếu có) ngay sau đó. Rối loạn bất kì giai đoạn nào trong các quá trình nêu trên cũng có thể dẫn đến tình trạng hiếm muộn của người phụ nữ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *