BỆNH THẬN – TIẾT NIỆU VÀ THAI NGHÉN

¯ BỆNH THẬN – TIẾT NIỆU VÀ THAI NGHÉN

  1. NHỮNG THAY ĐỔI CỦA HỆ THẬN – TIẾT NIỆU TRONG THAI KỲ

1.1. Thay đổi về giải phẫu hệ thận – tiết niệu trong thai kỳ

Kích thước thận tăng lên trong thai kỳ: Trên siêu âm và X quang phát hiện chiều dài của thận tăng lên khoảng 1 cm so với trước lúc có thai. Kích thước của thận về bình thường sau khi sinh.

Giãn đài bể thận và niệu quản: Thường được phát hiện bằng siêu âm và chụp bể thận, điều này chứng tỏ một tình trạng ứ nước do tắc nghẽn đường bài niệu. Sự ứ nước thường nhẹ gọi là giãn đài bể thận – niệu quản “sinh lý” trong thai kỳ.

Trong thai kỳ có sự giảm trương lực cơ trơn của hệ thống đường bài niệu (có thể do vai trò của các hormon gây giãn cơ trơn như Progesterol và Prolactine) cộng thêm với sự chèn ép cơ học hai niệu quản do tử cung lớn là nguyên nhân gây ứ đọng nước tiểu, thường gặp hơn ở bên phải. Sự ứ đọng nước tiểu là điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng ngược dòng, từ nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng cho đến viêm thận bể thận nặng. Một số trường hợp hiếm gặp, sự ứ đọng nước tiểu có thể gây cơn đau quặn thận.

Những thay đổi về hình thái của thận có thể tồn tại cho đến 12 tuần sau khi sinh. Do vậy các thăm dò về hình thái của hệ tiết niệu thông thường (không phải trường hợp cấp cứu) nên làm sau sinh ít nhất 12 tuần.

1.2. Chức năng thận

Những thay đổi về chức năng thận cũng xảy ra trong thai kỳ. Khi có thai, lưu lượng lọc cầu thận và lưu lượng máu qua thận tăng lên ngay từ những tháng đầu tiên của thai kỳ sau đó có thể đạt đến mức 30 đến 50% trên giá trị bình thường vào cuối tháng thứ 3 của thai kỳ.

Tăng lưu lượng lọc cầu thận làm tăng thải các chất cặn bã và làm giảm nồng độ creatinine máu khoảng từ 35 đến 44% so với giá trị bình thường. Như vậy, những chỉ số về sinh hóa thường được xem là bình thường ở người phụ nữ không có thai thì vẫn có thể phản ánh một sự suy giảm chức năng thận trong thai kỳ.

Ở phụ nữ có thai, nồng độ creatinine máu trên 80 µmol/l (0,8 mg/dl) và nồng độ urê máu trên 5 mmol/l (13mg/dl) có thể biểu hiện sự suy giảm chức năng thận.

Protein niệu: Do tăng lưu lượng máu đến thận trong quá trình mang thai, cho nên sẽ làm tăng lượng protein niệu thải ra. Cùng một mức độ tổn thương thận như nhau thì trong thai kỳ, lượng protein niệu thải ra sẽ tăng lên gấp đôi.

Chức năng ống thận: Độ thanh thải toàn phần và độ thanh thải từng phần đối với urat tăng lên, làm cho giá trị bình thường của urat máu giảm xuống. Do vậy, một nồng độ urat máu tăng trên 5mg/dl hoặc trên 298 µmol/l sẽ được nghi ngờ bệnh lý.

Máu có xu hướng kiềm hóa nhẹ, khi có thai pH khoảng 7,42-7,44.

1.3. Thay đổi về thể dịch

Phù là triệu chứng rất thường gặp trong thai kỳ.

Lượng nước toàn bộ trong cơ thể tăng lên, trong một thai kỳ bình thường người mẹ thường tăng cân toàn bộ khoảng 12,5 kg. Lượng nước toàn bộ tăng khoảng từ 6 đến 9 lít, trong đó từ 4 đến 7 lít là do tăng thể tích khoảng kẽ và huyết tương.

Sự điều hòa thẩm thấu của thận thay đổi khá sớm trong thai kỳ, ngưỡng thẩm thấu của thận đối với sự khát và đối với sự tiết vasopressin đều giảm khoảng 10 mOsmol/l mỗi loại. Kết quả là nồng độ natri máu bị giảm, trị số bình thường của natri máu trong thai kỳ khoảng 130 mmol/l. Nồng độ trên 140 mmol/l được xem là tăng natri máu. Tốc độ giáng hóa của vasopressin tăng gấp 4 lần do bánh nhau tiết ra men vasopressinase, nhất là trong giai đoạn sau của thai kỳ.

1.4. Hình thái kết hợp bệnh thận và thai nghén

Có hai hình thái kết hợp:

Bệnh thận – tiết niệu xảy ra trên một thai phụ mà trước khi mang thai chưa có.

Thai nghén ở bệnh nhân bị một bệnh lý thận mạn tính.

  1. NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU

2.1. Nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng trong thai kỳ

Phụ nữ mang thai thường bị nhiễm trùng tiết niệu không triệu chứng, một số trường hợp có thể biểu hiện bởi một tình trạng viêm bàng quang hoặc nặng hơn nữa là viêm đài bể thận.

Viêm bàng quang nhẹ thường bị bỏ sót vì những triệu chứng kích thích bàng quang cũng có thể gặp khi tử cung lớn gây kích thích bàng quang.

Các sản phụ nên được xét nghiệm nước tiểu trong quá trình mang thai để tránh bỏ sót một nhiễm khuẩn tiết niệu không triệu chứng. Tốt nhất là nên cấy nước tiểu.

Nếu được chẩn đoán nên điều trị theo kháng sinh đồ và nên chọn kháng sinh phù hợp ít gây ảnh hưởng cho thai nhi.

2.2. Nhiễm khuẩn tiết niệu thấp trong thai kỳ

Nguyên nhân nhiễm khuẩn tiết niệu thường do trương lực cơ bị giảm, bị chèn ép, gây giãn đường tiết niệu. Tỷ lệ bệnh 5 – 10% phụ nữ có thai.

Các loại vi khuẩn thường gặp là E.Coli chiếm 80%, ít gặp các loại Enterobacter khác, Proteus, Klebsiella, Enterococcus, liên cầu…

Nguy cơ cho thai: đẻ non, thai chết lưu, thai kém phát triển…

Triệu chứng lâm sàng: Sốt nhẹ, nhiệt độ < 38°C, kích thích bàng quang: đau dưới gò mu, đái buốt, đái rắt, đái đục, đái khó

Xét nghiệm nước tiểu có ít protein nhưng nhiều bạch cầu (> 10 bạch cầu/m), vì khuẩn > 1/ml nước tiểu. Các xét nghiệm xác định bao gồm: Test nhanh bạch cầu nitrit niệu, đĩa nuôi cấy hoặc nuôi cấy định danh vi khuẩn.

Điều trị kháng sinh từ 7 – 10 ngày bằng nhóm bêta lac tam vì ít gây độc với thận (Amino – penicillin hay Cephalosporin thế hệ 3). Nếu dị ứng với nhóm bêtalactam thì dùng Co – trimoxazol (Bactrim, Biseptol) hoặc Nitrofurantoin (trừ khi có thai tháng 8-9).

2.3. Viêm thận bể thận cấp tính

Viêm thận bể thận cấp tính là một trong những biến chứng nặng nề thường gặp trong thai kì.

Triệu chứng lâm sàng: Sốt cao, có thể do nhiễm khuẩn máu; đau lưng, hội chứng bàng quang; có thể có các triệu chứng khác: đau bụng, rối loạn tiêu hóa

Dấu hiệu cận lâm sàng: Cấy máu, cấy nước tiểu, sinh hóa và tế bào niệu, siêu âm hệ tiết niệu tìm triệu chứng và nguyên nhân tắc nghẽn, siêu âm thai, chụp XQ ngực thẳng nếu có khó thở hoặc thở nhanh. Làm lại xét nghiệm công thức máu và đánh giá tình trạng nhiễm trùng sau 48 giờ.

Điều trị: Nhập viện; kháng sinh đường tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp thịt nhóm bêta lactam: Unasyn, Augmentin, Cephalosporin thế hệ 3, 4 trong 5 – 10 ngày. Có thể chuyển kháng sinh uống sau khi hết sốt.

Cần theo dõi các biến chứng: Nhiễm khuẩn máu, sốc nhiễm khuẩn, áp xe thận, viêm tấy quanh thận, sảy thai, thai lưu

  1. BỆNH THẬN CẤP TÍNH KHI CÓ THAI

3.1. Sỏi tiết niệu

Sỏi thận (Nephrolithiasis) là bệnh lý thường gặp nhất của đường tiết niệu, bệnh lý này gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới. Tỷ lệ mắc bệnh sỏi thận tiết niệu chung trên toàn thế giới vào khoảng 3% dân số và khác nhau giữa các quốc gia.

Chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều đạm, hydrat carbon, natri, oxalat), nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh sống ở vùng nóng, vùng nhiệt đới,… là những yếu tố thuận lợi để bệnh sỏi thận tiết niệu dễ phát sinh.

Các loại sỏi tiết niệu:

* Sỏi calci: Những nguyên nhân làm tăng nồng độ calci trong nước tiểu thường docường tuyến giáp cận giáp, gãy xương lớn và bất động lâu ngày, dùng nhiều vitamin D và corticoid, di căn của ung thư qua xương, gây phá hủy xương…

* Sỏi oxalate: Tỷ lệ cao ở các nước nhiệt đới, oxalat thường kết hợp với calci để tạo thành sỏi oxalat calci.

* Sỏi phosphate: Thường gặp là loại amoni – magne – phosphat. Loại sỏi này có kích thước lớn, hình san hô, cản quang, hình thành do nhiễm khuẩn.

* Sỏi acid uric: Dễ xuất hiện khi chuyển hóa chất purine tăng trong cơ thể. Nguyên nhân có thể làm tăng chuyển hóa purine: Sử dụng nhiều thức ăn có chứa nhiều chất purine như lông động vật, thịt cá khô, nấm. Bệnh Gút. Phân hủy các khối ung thư khi dùng thuốc hóa trị liệu.

* Sỏi cystin: Do sai sót của việc tái hấp thu ở ống thận của chất cystin, tương đối ít gặp ở nước ta. Sỏi cystin là sỏi không cản quang.

– Chẩn đoán:

+ Lâm sàng:

Sỏi đường tiết niệu trên (sỏi thận, bể thận, niệu quản). Các triệu chứng thường gặp là cơn đau quặn thận: xuất hiện đột ngột, sau khi gắng sức, khởi phát ở vùng hồ thắt lưng một bên, lan ra phía trước, xuống dưới, cường độ đau thường mạnh, không có tư thế giảm đau. Tùy loại sỏi mà hướng lan khác nhau. Cơn đau quận thận là triệu chứng thường gặp nhất.

Triệu chứng kèm theo cơn đau quặn thận là buồn nôn, nôn mửa, chướng bụng do liệt ruột. Có thể có sốt, rét run nếu có nhiễm trùng kết hợp. Có thể có đái máu.

Khám lâm sàng điểm sườn lưng đau. Các điểm niệu quản ấn đau, có thể thấy thận to. Một số trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng (sỏi thể yên lặng), hoặc chỉ có dấu hiệu không rõ ràng như đau ê ẩm vùng thắt lưng một hoặc hai bên.

Sỏi đường tiết niệu dưới (sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo): Sỏi bàng quang sẽ kích thích niêm mạc bàng quang gây tiểu buốt, rát, tiểu tắc giữa dòng.

Khám ấn điểm bàng quang đau.

Sỏi niệu đạo sẽ gây bí tiểu, khám lâm sàng thường phát hiện được cầu bàng quang, sờ nắn dọc theo niệu đạo có thể thấy sỏi (thường gặp ở nam giới).

+ Cận lâm sàng:

Xét nghiệm nước tiểu:

Tìm tế bào và vi trùng: Nước tiểu có nhiều hồng cầu, bạch cầu. Có thể thấy vi trùng khi ly tâm soi và nhuộm Gram khi có biến chứng nhiễm trùng. Cấy nước tiểu trong trường hợp nghi ngờ có nhiễm trùng.

Soi cặn lắng: Có thể thấy tinh thể oxalat, phosphat, calci.

pH nước tiểu: Có nhiễm trùng niệu pH sẽ tăng trên 6,5 vì vi trùng sẽ phân hủy urea thành amoniac. Khi pH dưới 5,5 có nhiều khả năng có sỏi urat. Protein niệu: Nhiễm trùng niệu chỉ có ít protein niệu, nếu protein niệu nhiều phải thăm dò bệnh lý cầu thận.

Siêu âm: Phát hiện sỏi, độ ứ nước của thận và niệu quản, độ dầy mỏng của nhu mô thận. Đây là xét nghiệm thường được chỉ định trước tiên khi nghi ngờ có sỏi hệ tiết niệu trên phụ nữ có thai vì đơn giản, rẻ tiền, không xâm nhập và có thể lặp lại nhiều lần không có hại cho sản phụ và thai nhi.

Trong một số trường hợp, X quang ổ bụng có thể được thực hiện. X quang bụng không chuẩn bị: Xác định vị trí sỏi cản quang, cho biết kích thước số lượng và hình dáng của sỏi.

Chụp hệ tiết niệu qua đường tĩnh mạch (UIV): Hình dáng thận, đài bể thận, niệu quản, vị trí của sỏi trong đường tiết niệu, mức độ giãn nở của đài bể thận, niệu quản. chức năng bài tiết chất cản quang của thận từng bên.

Chụp X quang niệu quản thận ngược dòng: Phát hiện sỏi không cản quang, có giá trị trong trường hợp thận câm trên phim UIV.

Soi bàng quang: Thường ít dùng để chẩn đoán sỏi, nhưng có thể nội soi can thiệp lấy sỏi.

Xử trí: Phụ thuộc vào triệu chứng và tuổi thai. Sỏi tiết niệu ở phụ nữ có thai chỉ xử trí khi có triệu chứng đau và các biến chứng. Giảm đau và các kháng sinh ít ảnh hưởng đến thai. Xử trí nội khoa trong đa số các trường hợp. Xử trí ngoại khoa kết hợp khi điều trị nội khoa không kết quả và khi có biến chứng.

3.2. Suy thận cấp trong thai kỳ

– Trong giai đoạn đầu của thai kỳ, suy thận cấp thường liên quan đến tình trạng nghén nặng gây nôn nhiều.

– Ở giai đoạn sau có rất nhiều nguyên nhân đưa đến suy thận cấp như:

+ Bệnh lý tan huyết vi mạch và giảm tiểu cầu.

+ Suy thận cấp phối hợp với gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ: Hội chứng HELLP (Hemolysis Elevated Liver enzymes Low Platelets) biểu hiện bởi giảm tiểu cầu, tan huyết vi mạch máu, tăng men LDH và Transaminase.

+ Hoại tử ống thận cấp hoặc nặng hơn là hoại tử vỏ thận.

– Suy thận cấp sau sinh: Thường xảy ra ngay sau sinh cho đến 3 đến 6 tuần sau sinh.

Điển hình và hay gặp nhất của suy thận cấp trong thai kỳ là hoại tử ống thận cấp do thiếu máu thận hoặc do nhiễm độc, thường là biến chứng của rau bong non, thai chết lưu hoặc tắc mạch do nước ối. Khi sự tổn thương của các tế bào ống thận không hồi phục được thì sẽ đưa đến hoại tử vỏ thận, được đặc trưng bởi một tình trạng xơ hóa vỏ thận lan tỏa không phục hồi, đây là một bệnh cảnh rất nặng nề trong thai kỳ.

Điều trị suy thận cấp trong thai kỳ

Điều trị suy thận cấp trong thai kỳ về nguyên tắc không khác gì với điều trị suy thận cấp ngoài thai kỳ, bao gồm:

– Duy trì tốt huyết động đảm bảo tưới máu thận đầy đủ.

– Thuốc lợi tiểu: Chú ý thận trọng trong những trường hợp huyết áp hạ.

– Điều chỉnh rối loạn điện giải và cân bằng toan kiềm.

– Lọc máu ngoài thận khi cần thiết: Thường dùng thận nhân tạo vì thẩm phân phúc mạc không dùng được khi có thai.

Kết hợp nội khoa và sản khoa để giải quyết nguyên nhân (sảy thai, đẻ non, thai chết lưu,…)

3.3. Hội chứng urê huyết tan máu

Hội chứng urê huyết tan máu (Hemolytic uremic syndrome – HUS) là một bệnh đặc trưng bởi tan máu, giảm tiểu cầu và chấn thương thận cấp tính. Tất cả các dạng HUS bất kể nguyên nhân nào đều có thể xảy ra khi các mạch máu nhỏ trong thận bị tổn thương, và viêm gây hình thành các cục máu đông trong mạch máu. Các cục máu đông làm tắc nghẽn hệ thống lọc trong thận và dẫn đến suy thận, có thể đe dọa tính mạng. Hội chứng urê huyết tan máu hiếm gặp ở phụ nữ có thai.

Hội chứng tan máu ure huyết có thể gây ra các biến chứng đe dọa tính mạng, bao gồm: Suy thận, có thể đột ngột (cấp tính) hoặc phát triển theo thời gian (mạn tính), huyết áp cao, đột quỵ hoặc co giật, hôn mê, rối loạn đông máu có thể dẫn đến chảy máu, các vấn đề tim mạch, tiêu hóa,…

Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng của HUS có thể khác nhau, tùy thuộc vào nguyên nhân. Hầu hết các trường hợp HUS là do nhiễm vi khuẩn Escherichia coli sàn sinh độc tố Shiga (STEC), ảnh hưởng đầu tiên đến đường tiêu hóa.

Mục tiêu điều trị là làm phục hồi số lượng tiểu cầu. Phục hồi được số lượng tiểu cầu sẽ gây đáp ứng với cả tổn thương hoại tử do thiếu máu gây ra bởi huyết khối tiểu cầu và chảy máu gây ra bởi giảm tiểu cầu. Khoảng 60% sản phụ bình phục hoàn toàn sau điều trị

Điều trị cụ thể: Truyền hồng cầu, tiểu cầu. Prednisolon liều cao 2mg/kg/ngày. Truyền huyết tương hay thay huyết tương. Lọc máu ngoài thận có thể cần thiết khi có suy thận cấp hoặc để lọc chất thải và chất lỏng dư thừa từ máu…

3.4. Hội chứng thận hư

– Đại cương: Hội chứng thận hư là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa, xuất hiện khi có tổn thương ở cầu thận do nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau gây nên, đặc trưng bởi phù, protein niệu cao, protein máu giảm, rối loạn lipid máu và có thể đái ra mỡ.

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thận hư:

+ Phù

+ Protein niệu > 3,5 g/24 giờ

+ Protein máu giảm dưới 60 g/lít, albumin máu giảm dưới 30 g/lít

+ Tăng cholesterol máu ≥ 6,5 mmol/lít

+ Có hạt mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ trong nước tiểu

Trong đó tiêu chuẩn 2 và 3 là bắt buộc, các tiêu chuẩn khác có thể không đầy đủ.

Chẩn đoán thể lâm sàng:

– Hội chứng thận hư thể đơn thuần: Có đầy đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thận hư, không có tăng huyết áp, đái máu hoặc suy thận kèm theo.

Hội chứng thận hư thể không đơn thuần: Ngoài các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thận hư, còn phối hợp với tăng huyết áp, đái máu đại thể hoặc vi thể, hoặc suy thận kèm theo.

Điều trị hội chứng thận hư:

Điều trị hội chứng thận hư nguyên phát:

– Điều trị triệu chứng: Giảm phù.

+ Chế độ ăn: Đảm bảo khẩu phần đủ protein (0,8 – 1g/kg/ngày + lượng protein mất qua nước tiểu). Hạn chế muối và nước khi có phù nhiều.

+ Bổ sung các dung dịch làm tăng áp lực keo: Nếu bệnh nhân có phù nhiều (áp dụng khi albumin máu dưới 25 g/l), tốt nhất là dùng albumin 20% hoặc 25% lọ 50 ml, 100 ml. Nếu albumin < 20 g/l có thể dùng albumin 20% loại 100 ml.

+ Lợi tiểu: Dùng lợi tiểu khi đã có bù protein và bệnh nhân không còn nguy cơ giảm thể tích tuần hoàn. Ưu tiên dùng lợi tiểu loại kháng aldosteron như spironolactone (verospirone, aldactone) hoặc phối hợp với furosemide. Liều dùng verospirone bắt đầu từ 25 mg/ngày hoặc furosemid bắt đầu từ 20 mg/ngày, tùy theo đáp ứng của bệnh nhân để điều chỉnh liều lợi tiểu. Cần phải theo dõi số lượng nước tiểu, cân nặng hàng ngày và xét nghiệm điện giải đồ máu.

– Điều trị đặc hiệu:

Cần phải điều trị theo thể tổn thương mô bệnh học, tuy nhiên trong điều kiện không thể sinh thiết thận có thể áp dụng theo phác đồ dưới đây:

+ Corticoid (prednisolone, prednisone, methyprednisolone, trong đó 4mg methyprednisolone tương đương với 5 mg prednisolone).

+ Thuốc ức chế miễn dịch khác:

  • Cyclophosphamide (50 mg), Chlorambucil 2mg, Azathioprine (50 mg), Cyclosporine A (25 mg,50 mg, 100mg), Mycophenolate mofetil (250 mg, 500mg) hoặc Mycophenolate acid (180mg, 360mg, 720 mg)…
  • Các thuốc ức chế miễn dịch trên được dùng khi bệnh nhân không có đáp ứng với corticoid hoặc có nhiều tác dụng phụ, cần phải giảm liều hoặc ngừng corticoid.

– Điều trị biến chứng:

+ Điều trị nhiễm trùng: Dựa vào kháng sinh đồ để cho kháng sinh phù hợp.

+ Điều trị dự phòng một số tác dụng phụ như loét dạ dày tá tràng, loãng xương…

+ Điều trị tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, dự phòng tắc mạch.

+ Điều trị suy thận cấp: Cân bằng nước, điện giải, đảm bảo bù đủ albumin.

Điều trị hội chứng thận hư thứ phát:

– Theo nguyên nhân gây bệnh.

– Xử trí thai phụ có hội chứng thận hư:

+ Nếu chẩn đoán trước có thai cần khám tư vấn bác sĩ chuyên khoa thận trước khi muốn có thai. Nếu tình trạng bệnh ổn định, không suy thận hay suy thận độ 1 mới nên có thai.

+ Khi có thai cần cân nhắc thuốc điều trị phù hợp, ít ảnh hưởng đến thai nhi.

+ Theo dõi thai cần phối hợp bác sĩ chuyên khoa thận và bác sĩ chuyên khoa sản.

+ Việc ngừng thai nghén sẽ đặt ra khi mẹ có biến chứng và việc ngừng thai nghén càng sớm càng có lợi cho tình trạng bệnh lý của người mẹ.

  1. BỆNH THẬN MẠN TÍNH KHI CÓ THAI

Mặc dù các bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính (bệnh cầu thận, suy thận mạn, ghép thận,…) thường được khuyên không nên có thai do những hậu quả không tốt của tình trạng mang thai đối với sức khỏe người mẹ và do ảnh hưởng của các loại thuốc đang dùng lên thai nhi, nhưng trong thực tế, thai nghén vẫn có thể xảy ra trên những bệnh nhân này.

Mức độ suy thận tại thời điểm mang thai và tăng huyết áp là hai yếu tố tiên lượng chính cho thai kỳ. Vì vậy, việc theo dõi và điều trị tích cực tăng huyết áp nếu có là một việc rất quan trọng trong suốt quá trình thai nghén.

Đối với từng bệnh lý thận cụ thể, thai nghén có ảnh hưởng khác nhau.

4.1. Bệnh thận do đái tháo đường

Thai nghén không làm tăng tình trạng suy thận, nhưng có khả năng nhiễm trùng niệu khá cao, tăng protein niệu và tăng huyết áp nhất là vào những tháng cuối.

4.2. Bệnh lý cầu thận mạn tính

Thai nghén làm tăng huyết áp, nhưng dung nạp tốt nếu trước khi mang thai người bệnh không có tăng huyết áp và không có rối loạn chức năng thận.

Nhiều tác giả cho rằng các loại bệnh cầu thận xơ hóa ổ đoạn, bệnh cầu thận IgA và bệnh cầu thận tăng sinh màng sẽ trầm trọng hơn khi mang thai.

4.3. Thai nghén ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo chu kỳ

Với nhóm bệnh nhân này, mặc dù được theo dõi sát thì tai biến sản khoa vẫn rất cao, với nguy cơ tử vong cho mẹ và thai, phần lớn là sảy thai và sinh non, nếu trẻ sinh ra được thì cũng có nguy cơ cao về phát triển tinh thần.

Do vậy, vấn đề tiếp tục giữ thai hay không trên nhóm bệnh nhân này thường xuyên được đặt ra. Việc giữ thai cần được thảo luận giữa bệnh nhân và các bác sĩ thận nhân tạo, bác sĩ sản khoa để tìm ra giải pháp thích hợp nhất.

Phối hợp điều trị và theo dõi cho người mẹ và thai nhi. Đình chỉ thai nghén khi cần thiết…

4.4. Bệnh nhân đã ghép thận

Những bệnh nhân này thường xuyên phải dùng các thuốc ức chế miễn dịch và corticoides nên việc mang thai phải được theo dõi kỹ càng bởi các bác sĩ sản khoa và thận học.

Các tiêu chuẩn trước khi mang thai ở những bệnh nhân ghép thận:

Thời gian sau ghép: từ 1,5 năm đối với ghép thận người sống, 2 năm đối với ghép thận người chết.

Không có đợt thải ghép nào trong vòng ít nhất 6 tháng.

Liều Prednisone < 15 mg/ngày. Azathioprine < 2 mg/kg. Cyclosporine 2 – 4 mg/kg.

Nồng độ Creatinine máu < 2 mg/dl.

Huyết áp < 140/90 mmHg (có thể đang dùng thuốc hạ huyết áp).

Nồng độ HbA1C bình thường.

Cấy nước tiểu âm tính.

4.5. Thái độ xử trí

Những bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính, đặc biệt là những bệnh nhân đã có suy thận mạn không nên mang thai.

Nếu bệnh nhân muốn có thai phải khám và tham vấn bác sĩ thận – tiết niệu và bác sĩ sản khoa.

Thái độ điều trị trước phụ nữ có thai bị bệnh thận mạn tính:

Theo dõi và điều trị tích cực tăng huyết áp, phát hiện và điều trị sớm các tình trạng nhiễm trùng đường niệu. Chế độ ăn giàu protein cũng được khuyến cáo:

Đối với bệnh nhân chưa có suy thận mạn: Có thể mang thai và sinh con bình thường, tuy nhiên bệnh nhân cần được theo dõi kỹ với sự phối hợp Sản khoa – Nội khoa, cần chú ý rằng các thuốc đang được dùng dài ngày để điều trị bệnh thận như corticoid, ức chế miễn dịch, thuốc điều trị đái tháo đường, một số thuốc điều trị tăng huyết áp có thể ảnh hưởng đến thai.

Đối với bệnh nhân đã có suy thận mạn: Tiên lượng phụ thuộc vào mức độ suy thận, nhưng những bệnh nhân này thường không thể giữ được thai, nhất là khi suy thận mạn đã nặng. Ở những bệnh nhân đang được điều trị thận nhân tạo chu kỳ thì nguy cơ cho mẹ và thai rất cao, vì vậy không nên giữ thai. Bệnh nhân chỉ nên mang thai sau khi đã ghép thận và có theo dõi sát của các nhà thận học và sản khoa.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *