BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP VÀ THAI NGHÉN

¯ BỆNH LÝ TUYẾN GIÁP VÀ THAI NGHÉN

  1. Tuyến giáp là một tuyến nội tiết, hình cánh bướm, thường nằm ở phía trước, dưới của cổ. tuyến giáp tiết hormon thyroxine (T4) và tri – iodothyronine (T3), tuyến giáp được điều hòa chế tiết hormon của TSH từ tuyến yên. T4/T3 có chức năng điều hòa nhiều chuyển hóa trong cơ thể. Hormon của tuyến giáp chủ yếu là thyroxin được hình thành từ tyrosin và iod.

Tác dụng của thyroxin:

– Tăng cường quá trình trao đổi chất, kích thích sinh trưởng phát dục.

– Kích thích hoạt động của tim, tăng cường sự co bóp.

– Tác động đến hoạt động của các tuyến sinh dục và tuyến sữa.

– Tăng cường quá trình tạo nhiệt, làm tăng đường huyết.

– Kích thích sự phát triển và hoàn thiện hệ thần kinh.

Các bệnh lý tuyến giáp trong thai kỳ có ảnh hưởng rất lớn đến thai nhi và có thể gây ra biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và con.

Các bệnh lý tuyến giáp thường gặp trong thai kỳ như suy giáp, suy giáp bẩm sinh, suy giáp dưới lâm sàng, cường giáp, bệnh Basdow, cường giáp thoáng qua, ung thư giáp…

Trong khuôn khổ bài này chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề suy giáp và cường giáp ở phụ nữ có thai.

  1. NHỮNG THAY ĐÔI CỦA CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP Ở PHỤ NỮ MANG THAI

– Thay đổi về hormon: Khi mang thai cơ thể người mẹ sẽ sản sinh ra hai hormon chính: ẞhCG (human chorionic gonadotropin) và estrogen. Việc tăng ẞhCG trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể làm giảm nhẹ hormon TSH (kích thích giáp trạng), lúc này gọi là cường giáp cận lâm sàng. TSH sẽ tăng trở lại ở giai đoạn sau của thai kỳ. Estrogen sẽ làm tăng gắn protein của hormon tuyến giáp trong huyết thanh, tuy nhiên hormon tuyến giáp tự do (FT3, FT4) không tăng, do đó không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp.

Như vậy chức năng tuyến giáp vẫn bình thường nếu TSH, FT3 và FT4 bình thường.

– Thay đổi về kích thước: Tuyến giáp có thể thay đổi về kích thước trong quá trình mang thai: Kích thước lớn hơn khoảng 10 – 15%, gọi là bướu cổ. Tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ sống ở vùng núi và những vùng thiếu i ốt

Thai phụ có tăng kích thước tuyến giáp cần khám chuyên khoa nội tiết. Nếu chức năng tuyến giáp bình thường thì không có ảnh hưởng đến thai kỳ.

  1. TÁC ĐỘNG CỦA CHỨC NĂNG TUYẾN GIÁP ĐẾN THAI NHI

Trong 10 – 12 tuần đầu của thai kỳ, đứa trẻ phụ thuộc hoàn toàn vào chức năng tuyến giáp của người mẹ. Hết 3 tháng đầu, cơ thể của thai nhi sẽ tự sản xuất ra hormon tuyến giáp. Mặc dù vậy, thai nhi vẫn phải phụ thuộc chính vào lượng iod của cơ thể mẹ. Thai nhi trong giai đoạn này bắt đầu sự hình thành và phân chia các cơ quan trong cơ thể. Chính vì vậy, các bệnh lý tuyến giáp trong thai kỳ có ảnh hưởng rất lớn đến thai nhi, có thể gây ra biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và con. Với người mẹ: tăng huyết áp, tiền sản giật, loạn nhịp, suy tim, bão giáp; Với thai nhi: thai lưu, sảy thai, sinh non, bong rau, thai chậm phát triển trong tử cung, xương trưởng thành sớm, suy giáp bẩm sinh…

Việc kiểm tra chức năng tuyến giáp trước khi có thai và đặc biệt trong giai đoạn đầu thai kỳ đặc biệt quan trọng. Giúp cho bác bác sĩ có thể can thiệp sớm để tránh ảnh hưởng tình trạng nội tiết của trẻ. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo phụ nữ mang thai nên bổ sung vào thức ăn hay thực phẩm chức năng mỗi ngày 200 mcg i-ốt để duy trì chức năng tuyến giáp của trẻ.

  1. BỆNH CƯỜNG GIÁP VÀ THAI NGHÉN

– Trong những nguyên nhân thường gặp gây cường giáp trong quá trình mang thai thì Basedow là nguyên nhân gây cường giáp thường gặp nhất (80 – 85%). Basedow gặp với tỷ lệ 1/1500 phụ nữ mang thai. Trong một số trường hợp hCG tăng quá cao cũng gây triệu chứng cường giáp.

– Chẩn đoán Basedow trong thời kỳ mang thai khó khăn hơn vì các triệu chứng lâm sàng như hay xúc cảm, sợ nóng, da nóng ẩm và vã mồ hôi dễ nhầm với các triệu chứng của nghén. Xét nghiệm đo độ tập trung i ốt không làm được vì sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Do đó chẩn đoán dựa vào tiền sử, nhịp tim nhanh trên 100 lần/phút, siêu âm tuyến giáp to, lan tỏa, xét nghiệm TSH, FT4, TPO Ab (Anti – Thyroperoxidase Auto Antibodies). Các kháng thể TgAb hoặc TPOAb có thể dương tính trong bệnh Basedow nhưng chỉ có tăng nồng độ kháng thể TSH – RAb (TRAb) mới đặc hiệu.

– Những nguy cơ của Basedow và cường giáp đối với phụ nữ mang thai:

+ Bệnh có thể mới xảy ra trong 3 tháng đầu của thai kỳ hoặc ở phụ nữ đã bị Basedow trước đó.

+ Ngoài các triệu chứng kinh điển, người mẹ còn có thể bị đẻ non hoặc tiền sản giật, nguy cơ cao bị suy tim, nhiễm độc giáp cấp.

+ Bệnh Basedow có thể được cải thiện vào 3 tháng cuối thai kỳ và cũng có thể nặng hơn ở thời kỳ hậu sản.

– Những nguy cơ của Basedow và cường giáp đối với thai nhi:

+ Cường giáp không được kiểm soát tốt: Thai nhi dễ bị tim bẩm sinh, thai chậm phát triển, trẻ bị đẻ non, thai chết lưu và có thể bị dị tật bẩm sinh. Vì thế điều trị cường giáp cho phụ nữ có thai là hết sức quan trọng

+ TSI (hormon kích thích tuyến giáp – Thyroid Stimulating Immunoglobulin) tăng quá cao do Basedow được biết đến như một bệnh tự miễn dịch cơ thể tự sinh ra kháng thể kích thích tuyến giáp (TSI). Kháng thể bấy h tự miễn dịch, cơ thể tế sinh động đến tuyến giáp của thai nhi gây cường giáp ở trẻ sơ sinh. Do vậy phụ nữ mang thai bị Basedow phải định lượng TSI ở 3 tháng cuối thai kỳ.

Nếu được điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp thì ít gặp TSI cao vì thuốc qua rau thai.

+ Thuốc kháng giáp trạng tổng hợp: Methimazol (Thyrozol) và PTU là hai thuốc điều trị cường giáp chính hiện nay. Cả hai thuốc này đều qua rau thai và có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp và gây bướu cổ thai nhi. Lâm sàng thấy nhóm PTU vẫn được lựa chọn nhiều hơn, có thể vì PTU ít qua nhau thai hơn so với nhóm Methimazol. Các nghiên cứu gần đây nhận thấy cả hai nhóm thuốc trên đều an toàn với phụ nữ có thai. Nên điều trị với liều thấp, duy trì FT4 ở giới hạn cao của bình thường sẽ tốt cho thai nhi hơn.

Trong quá trình điều trị thai nhi được theo dõi đều về tốc độ phát triển, nhịp tim thai, siêu âm tìm bướu cổ cho thai.

– Lựa chọn điều trị cho thai phụ cường giáp:

+ Cường giáp nhẹ (triệu chứng nghèo nàn, nồng độ hormon tăng nhẹ) thông thường sẽ được theo dõi chặt chẽ mà chưa cần điều trị gì cho cả mẹ và trẻ sơ sinh.

+ Cường giáp nặng cần phải điều trị thì thuốc kháng giáp trạng tổng hợp nên lựa chọn là PTU và theo dõi chặt chẽ (xét nghiệm TSH, hormon tuyến giáp hàng tháng) tránh gây suy giáp cho người mẹ và đứa trẻ.

+ Những thai phụ không thể điều trị với thuốc kháng giáp trạng tổng hợp (dị ứng thuốc) thì phẫu thuật có thể được lựa chọn. Tuy nhiên phẫu thuật cắt tuyến giáp cần được cân nhắc hết sức chặt chẽ vì nguy cơ của gây mê, của phẫu thuật cho cả mẹ và thai nhi.

+ Chống chỉ định điều trị i ốt phóng xạ cho phụ nữ có thai vì i ốt phóng xạ qua nhau thai gây mất chức năng tuyến giáp của trẻ.

+ Thuốc ức chế bê ta giao cảm có thể được dùng để giảm triệu chứng đánh trống ngực và run do cường giáp. Nên dùng liều nhỏ, thông thường loại thuốc này chỉ cần thiết cho đến khi cường giáp được kiểm soát bằng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp.

– Thông thường phụ nữ bị Basedow sau khi sinh bệnh sẽ nặng lên (thường ở giai đoạn đầu thai kỳ và 3 tháng đầu tiên sau sinh), do đó cần tăng liều thuốc kháng giáp trạng trong thời điểm này. Đồng thời cần kiểm soát chặt chức năng tuyến giáp. Đứa trẻ có thể bú sữa mẹ nếu bà mẹ được điều trị bằng PTU vì PTU gắn với protein máu cao và ít qua sữa mẹ hơn các thuốc khác.

  1. BỆNH SUY GIÁP VÀ THAI NGHÉN

– Có thể suy giáp bẩm sinh hay mắc phải. Viêm tuyến giáp tự miễn (viêm tuyến giáp Hashimoto) là nguyên nhân chính gây suy giáp. Suy giáp có thể xảy ra khi mang thai, là do giai đoạn đầu của bệnh Hashimoto, điều trị suy giáp chưa đủ liều, trước đó điều trị cường giáp bằng thuốc kháng giáp trạng

– Nguy cơ suy giáp trong thai kỳ đối với mẹ: Nếu không được điều trị hoặc điều trị Ngưng đi liều gây nên thiếu máu (hồng cầu giảm), bệnh lý về cơ (đau cơ, điều cơ, khuy tim sung huyết, tiền sản giật, bất thường về nhau thai, trẻ sinh ra nhẹ cân và chảy máu sau sinh. Những biến chứng này hầu hết xảy ra ở những thai phụ suy giáp nặng. Hầu hết suy giáp nhẹ sẽ không có triệu chứng hoặc các triệu chứng là do bệnh của thai nghén.

– Nguy cơ suy giáp thai kỳ đối với trẻ sơ sinh: Hormon tuyến giáp rất cần thiết cho sự phát triển não trẻ. Trẻ sinh ra suy giáp bẩm sinh (không có chức năng tuyến giáp) có thể bất thường nghiêm trọng về nhận thức và sự phát triển của hệ thần kinh. Điều này có thể phòng được nếu trẻ được phát hiện sớm ngay sau sinh. Việc sàng lọc suy giáp sau sinh là thực sự cần thiết. Nếu có chẩn đoán suy giáp bẩm sinh cần được điều trị thay thế hormon tuyến giáp sớm nhất có thể.

– Ảnh hưởng của thai phụ bị suy giáp lên sự phát triển của não trẻ còn chưa rõ ràng. Suy giáp thai kỳ nặng không được điều trị có thể dẫn đến giảm sự phát triển não trẻ. Các bác sĩ khuyên nên kiểm tra TSH trước khi mang thai hoặc khi có thai càng sớm càng tốt, đặc biệt ở những phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh lý tuyến giáp (trước đó điều trị cường giáp, tiền sử gia đình mắc bệnh lý tuyến giáp, bướu cổ). Phụ nữ suy giáp cần làm TSH khi mang thai, hormon tuyến giáp cần cao hơn trong thai kỳ, do đó thường phải tăng liều levothyroxine. Nếu TSH bình thường, không cần phải kiểm tra và theo dõi. Phụ nữ bị suy giáp cần được điều trị để TSH và FT4 trở về bình thường.

– Điều trị suy giáp thai kỳ:

+ Điều trị suy giáp ở phụ nữ mang thai giống như phụ nữ không mang thai bị suy giáp, đó là dùng hormon tuyến giáp tổng hợp để thay thế.

+ Khi bắt đầu có thai sẽ khám và điều chỉnh liều thuốc. Thường sẽ phải tăng liều hormon lên 25 – 50% khi mang thai.

+ Phụ nữ bị suy giáp nên điều chỉnh liều levothyroxine tối ưu trước khi mang thai và kiểm tra TSH ngay khi có thai để điều chỉnh TSH về mức bình thường.

+ Chức năng tuyến giáp được kiểm tra mỗi 6 – 8 tuần trong suốt quá trình mang thai để chắc chắn chức năng tuyến giáp bình thường. Nếu thay đổi liều levothyroxine thì cần kiểm tra chức năng tuyến giáp sau 4 tuần. Sau sinh kiểm tra càng sớm càng tốt. Sau sinh liều levothyroxine được đưa về giống như trước khi mang thai.

Chú ý các vitamin dành cho phụ nữ mang thai có chứa sắt và calci, sẽ làm giảm hấp thu hormon tuyến giáp qua đường tiêu hóa. Do đó cần uống các thuốc vào những thời điểm khác nhau, cách nhau ít nhất 2 – 3 giờ.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *