SẨY THAI
Sẩy thai là thời điểm thai ra khỏi buồng tử cung trước thời điểm thai có thể nuôi được
Tuổi thai nuôi được phụ thuộc vào tiến bộ khoa học chung và của từng nước, nên quy định giới hạn này có thể thay đổi theo từng nước và từng giai đoạn lịch sử
Hiện nay giới hạn quy định là 6 tháng (180 ngày) hoặc 24 tuần từ ngày đầu kỳ kinh cuối và 28 tuần
Ø Phân loại
- Sẩy thai tự nhiên
Sẩy thai tự nhiên là sẩy thai đột nhiên xảy ra ở người có thai bình thường (mà trước đó chưa bị xảy thai)
- Sẩy thai liên tiếp
Sẩy thai liên tiếp là xảy thai đột nhiên xảy ra ở người có thai mà trước đó đã bị sẩy ít nhất là 2 lần
Ø Nguyên nhân
- Rối loạn nhiễm sắc thể (hay gặp ở tuần lễ đầu)
- 6 tuần lễ đầu chiếm 70% tổng số sẩy cùng tuổi thai
- 10 tuần lễ đầu chiếm 50% tổng số sẩy cùng tuổi thai
- Sau 12 tuần chiếm 5% tổng số sẩy cùng tuổi thai
Trong số rối loạn nhiễm sắc thể thì:
- Ba thể nhiễm sắc (trisomie) chiếm 54%
- Tam bội thể (triploidie) chiếm 20%
- Thể nhiễm sắc đơn độc (monosomie X) chiếm 10%
- Chuyển vị thể nhiễm sắc (translocation) chiếm 4%
- Nhiễm trùng
Gặp khoảng 15%, chiếm vị trí thứ 2 trong các nguyên nhân sẩy thai
- Nhiễm virus: cúm, sởi; hoặc nhiễm trùng: coli, Rickettsiose, xoắn trùng giang ma; hoặc nhiễm ký sinh trùng Toxoplasmose
- Viêm nhiễm nội mạc tử cung
- Dị dạng tử cung, tử cung bất thường
- Tử cung nhỏ nhi tính
- Tử cung đôi , buồng tử cung kém phát triển
- Tử cung hai sừng
- Tử cung có vách ngăn
- Tử cung có u xơ
- Hở eo tử cung
- Nhiễm độc
Thai phụ tiếp xúc với các chất độc hóa học mà không có bảo vệ cẩn thận
- Trứng làm tổ bất thường, phát triển bất thường
- Trứng làm tổ ở thấp, ở eo, ở góc
- Sinh đôi
- Chửa trứng (có nhiều trường hợp chửa trứng vi thể mà lâm sàng không chẩn đoán được)
- Bất đồng nhóm máu mẹ và con
Đặc biệt là không cùng yếu tố Rh giữa mẹ và con
- Nội tiết
Các hormon hướng sinh dục rau thai (hCG) và hormon sinh dục estrogen, progeteron giảm
- Sang chấn
Sang chấn mạnh do ngã hoặc sang chấn nhẹ nhưng đều và liên tục do rung động máy, hoặc do tư thế đứng nhiều và lao động nặng
Ø Triệu chứng và chẩn đoán
- Giai đoạn đầu: sắp sẩy thai (dọa sẩy)
+ Có triệu chứng thai nghén
+ Ra máu: triệu chứng xuất hiện thường sớm và rất có giá trị chuẩn đoán. Máu ra có màu đỏ hoặc hơi đen lần dịch nhầy
+ Đau bụng ít: triệu chứng này xuất hiện muộn hơn, biểu hiện bắt đầu có cơn co
- Giai đoạn thai sẩy thực sự
+ Ra máu nhiều, máu đỏ, máu cục, chứng tỏ rau bong
+ Đau bụng từng cơn, chứng tỏ có cơn co tử cung
+ Khám âm đạo: cổ tử cung xóa mỏng, có thể hé mở, đoạn dưới phình to, bọc thai bị tống xuống cổ tử cung, làm cho cổ tử cung có hình con quay, có khi thấy bọc thai thập thò ở lỗ cổ tử cung
Cần chẩn đoán phân biệt với:
- Thể giả sẩy của chửa ngoài tử cung (khối sẩy không có gai rau)
- Chửa trứng
- Viêm phần phụ
- Viêm ruột thừa
Ø Xử trí
- Dọa sẩy thai
- Cho thai phụ nghỉ ngơi tuyệt đối
- Chống co bóp tử cung bằng các loại thuốc papaverin, spasmalgin, atropin, alupent, progesteron
- Vệ sinh âm hộ, âm đạo, tránh nhiễm trùng
- Điều trị theo nguyên nhân:
+ Chống nhiễm trùng (nếu bị nhiễm trùng)
+ Điều trị nội tiết (nếu xét nghiệm chứng tỏ thiếu nội tiết)
+ Phẫu thuật bóc tách nhân xơ (nếu khối u có nhân xơ)
Trên thực tế có một số căn nguyên không thể khắc phục điều trị được như rối loạn nhiễm sắc thể, dị dạng tử cung v.v…
- Đang sẩy thai
- Nạo hết thai rau và tiêm ocytocin làm co tử cung để phòng chảy máu liên tục
- Chống nhiễm trùng: điều trị kháng sinh
- Hồi sức, hồi phục máu đã chảy tùy theo từng trường hợp bằng máu tươi cùng nhóm, dung dịch mặn 9%, dung dịch ngọt 5% và vitamin
Ø Biến chứng
- Băng huyết: do rau bong dở dang, vì vậy phải lấy thai và rau ra nhanh
- Nhiễm trùng sau sẩy: nhiễm trùng niêm mạc tử cung, nếu không được xử trí kịp thời sẽ gây biến chứng nhiễm trùng tiểu khung, nhiễm trùng huyết
- Thủng tử cung: do nạo thai và rau
- Tử vong: thường do băng huyết quá nhiều, bệnh nhân trong tình trạng mất máu nặng hoặc do nhiễm trùng nặng (gây tử vong muộn hơn)
