CHỬA NHIỀU THAI, THAI SINH ĐÔI

CHỬA NHIỀU THAI, THAI SINH ĐÔI

Chửa nhiều thai có nghĩa là có hai thai trở nên phát triển một lúc trong tử cung và còn gọi là chửa sinh đôi, sinh ba, sinh tư…Chửa nhiều thai có thể là do nhiều trứng cùng thụ tinh hay một trứng thụ tinh và phân chia thành nhiều thai. Trong số đa thai thì 90% là thai sinh đôi

Ø Chẩn đoán

Chẩn đoán thai sinh đôi dựa vào các dấu hiệu sau:

  • Chiều cao tử cung: chiều cao tử cung và vòng bụng quá lớn so với tuổi thai. Trị số đo chiều cao tử cung nằm trên đường bách phân thứ 90 (đo 3 lần cách nhau 1 tuần 1 lần)
  • Đa ối: đa ối hay dư ối là dấu hiệu thường gặp làm cho tử cung to nhanh, kèm theo là các dấu hiệu phù, giãn tĩnh mạch và thai phụ mệt mỏi nhiều
  • Khám bụng sờ thấy có nhiều cực hay thấy nhiều chi
  • Nghe được nhịp tim của từng thai khác nhau từ 10 nhịp trở lên
  • Chẩn đoán siêu âm có thể phát hiện chửa nhiều thai, đặc biệt ở giai đoạn sớm của thai nghén
  • Chẩn đoán X quang có thể phát hiện chửa nhiều thai (ở giai đoạn muộn), nhưng hiện nay ít áp dụng vì tác hại của tia X quang đối với thai

Ø Tiến triển và biến chứng

  1. Biến chứng đối với con
  • Thai chết lưu chiếm tử lệ 7,6%, một hay nhiều thai có thể bị chết hay sẩy. Thai chết có thể tan hay khô đét lại, có khi bị dẹt mỏng áp sát vào màng ối gọi là “thai giấy”. Trên một thai phụ tỷ lệ tử vong cả hai thai là 2,2% và 1 thai là 4,1%
  • Đẻ non: tỷ lệ đẻ non từ 45 đến 55% , tuổi thai trung bình thấp từ 35,3 tuần đến 37,4 tuần

Hai nguyên nhân thường gây đẻ non trong thai sinh đôi:

+ Do nhiều nước ối làm tử cung căng quá mức

+ Do diện rau rộng gây nên rau tiền đạo

  • Thai nhẹ cân: thai < 2800g chiếm tỷ lệ từ 50 – 70%, trong đó 37 tuần và 2800g chiếm tỷ lệ 90%. Trọng lượng thai trung bình của thai sinh đôi bằng 65% so với thai sinh một

Trung bình cân nặng của thai sinh đôi là 2068g  700g

  • Tỷ lệ tử vong thai cao: chênh lệch cân nặng giữa 2 thai càng cao, tỷ lệ tử vong càng cao. Cụ thể: thai thứ nhất có cân nặng cao hơn thai thứ hai

+ <10% chiếm tỷ lệ 41,7% với tỷ lệ tử vong 11%

+ Từ 10 – 20% chiếm tỷ lệ 28,4% với tỷ lệ tử vong là 8,5%

+ Từ 20 – 30% chiếm tỷ lệ 12,4% với tỷ lệ tử vong là 11,9%

+ Từ > 30% chiếm tỷ lệ 9,5% với tỷ lệ tử vong là 31,4%

  • Thai dị dạng: hay gặp trên thai sinh đôi 1 noãn. Tỷ lệ bị dị dạng lớn là 2%, dị dạng nhỏ là 4%
  • Tỷ lệ can thiệp thủ thuật, phẫu thuật tăng. Do tỷ lệ đa ối, rỉ ối tăng 30,9%; sa dây rau 1,7%, rau tiền đạo tăng 2,2%; đờ tử cung 2,2% nên tỷ lệ phẫu thuật tăng 47,9% (năm 2006)
  1. Biến chứng đối với mẹ
  • Chảy máu: do rau tiền đạo (2,2%) hoặc do đờ tử cung (2,2%)
  • Tiền sản giật chiếm tỷ lệ 15% trong thai sinh đôi
  • Thiếu máu: Hb < 11g/100ml = 56,1% do nguyên nhân chảy máu (do rau tiền đạo, đờ tử cung sau đẻ) hay do bệnh lý tiền sản giật. Tỷ lệ chảy máu tăng 1,67 lần so với thai 1 (OR=1,67; CI=1,38 – 2,03)
  • Đa ối hoặc dư ối: cần chú ý phát hiện quái thai
  • Nhiễm độc thai nghén: huyết áp cao, phù, đái ra protein, thai phụ mệt mỏi, đau đầu. Dấu hiệu nhiễm độc thai nghén chiếm tỷ lệ khoảng 1/5 số chửa nhiều thai
  • Rối loạn cơ năng về phía mẹ:

+ Rối loạn tuần hoàn, nhịp thở, thu động ruột, giãn khớp vệ, phù

+ Chuyển dạ kéo dài và khó khăn hơn do tử cung bị giãn quá nhiều, cơn co giảm

+ Thời kỳ mở của cổ tử cung kéo dài, ối vỡ non

+ Thai mắc vào nhau, sự bình chỉnh của ngôi thai không tốt, sa dây rau, chảy máu sau đẻ do đờ tử cung

Ø Tiên lượng

  • Về phía người mẹ: tỷ lệ tử vong thường gặp tăng gấp 3 so với chửa một thai (do sốc vì chảy máu, sản giật, đẻ khó)
  • Về phía con: thai bị chết trước và trong chuyển dạ tăng gấp 5 lần (sa dây rau, rau quấn cổ, rau thắt nút, bong rau sớm, thai non yếu, nhiễm trùng)

Ø Xử trí

Cần phát hiện sớm để tránh biến chứng khi có thai và các sang chấn khi đẻ

  • Trong khi có thai:

+ Vệ sinh ăn uống, lao động nhẹ, nghỉ ngơi, tránh những chấn động kích thích, đề phòng nhiễm độc thai nghén xuất hiện

+ Nghỉ làm việc sớm hơn và nhất là khi có biến cố

+ Vào viện từ tuần thứ 38 trở đi để theo dõi

  • Trong khi chuyển dạ

+ Phải cẩn trọng khi sử dụng thuốc làm tăng và giảm cơn co tử cung

+ Cắm sẵn dây truyền dung dịch glucose 5% x 500ml và 5 đv ocytocin truyền tĩnh mạch chậm (2ml/phút) để tăng cơn co nếu cơn co giảm và để tránh đờ tử cung sau đẻ (liều ocytocin có thể tăng hoặc giảm tùy theo mức độ cơn co tử cung)

+ Nếu thai thứ nhất chậm sổ nên làm foóc xép lấy thai ra, sau đó khám lại thai thứ hai, nếu là ngôi dọc sẽ bám ối cho thai thứ hai sổ, nếu sổ khó khăn thì nên can thiệp thủ thuật sớm để tránh tai biến suy thai.     Nếu sau khi sổ thai thứ nhất mà cơn co tử cung giảm, thì phải tăng lượng ocytocin

Nếu là ngôi ngang phải nội xoay ngay và lấy thai ra luôn, khoảng cách thời gian giữa sổ thai thứ nhất và thứ hai tốt nhất là từ 5 đến 8 phút

+ Sau khi các thai đã sổ, vẫn tiếp tục truyền ocytocin để đề phòng băng huyết sau khi sổ rau

+ Sau đẻ phải kiểm tra xem có sót rau và thai có bị dị dạng gì khác biệt

  • Sau khi đẻ: vẫn tiếp tục truyền ocytocin nếu có dấu hiệu tử cung co hồi không tốt để tránh đờ tử cung thứ phát gây chảy máu

Theo dõi nhiễm trùng do chuyển dạ lâu hoặc phải can thiệp thủ thuật đường dưới

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *