RAU BONG NON
Rau bong non là bệnh lý nặng toàn thân, là một cấp cứu trong sản khoa, biến chuyển nhanh chóng làm cắp mẹ và con tử vong. Tỷ lệ bệnh khoảng từ 0,38% đến 0.6% và hay xảy ra vào 3 tháng cuối của thai nghén.
Tỷ lệ tử vong mẹ cao nếu không được phát hiện kịp thời, tỷ lệ tử vong con là 100% trong các thể bệnh nặng.
Ø Nguyên nhân
Nguyên nhân sinh bệnh chưa rõ
- Các điều kiện thuận lợi hay kết hợp:
+ Thai phụ nhiều tuổi, đẻ nhiều lần.
+ Thai phụ có tiền sử sản khoa khó khăn như thai chết lưu, sẩy thai liên tiếp, rau bong non.
+ Các sang chấn cơ học vào tử cung.
+ Nhiễm độc thai nghén (60% đến 70% rau bong non có các dấu hiệu nhiễm độc thai nghén: huyết áp cao, phù, protein trong nước tiểu).
+ Chế độ ăn thiếu acid folic hoặc rối loạn chuyển hoá acid folic.
Ø Triệu chứng và chẩn đoán
Triệu chứng lâm sàng thay đổi tuỳ theo bệnh nặng hay nhẹ, tuy nhiên rau bong non có một đặc điểm là triệu chứng lâm sàng không đi đôi với tổn thương giải phẫu, có nghĩa là rau bong non nặng, tử cung thâm tím nhưng không biểu hiện rõ về mặt lâm sàng.
- Thể ẩn: không phát hiện được triệu chứng lâm sàng trước khi đẻ.
Sau đẻ kiểm tra thấy cục máu sau rau. Thể trạng của mẹ và con bình thường.
- Thể nhẹ: biểu hiện các triệu chứng lâm sàng nhẹ.
+ Thể trạng thai phụ bình thường, không có dấu hiệu sốc.
+ Chảy máu đường âm đạo ít.
+ Tử cung cường tính.
+ Tim thai bình thường.
+ Sau đẻ kiểm tra rau thấy khối huyết tụ sau rau.
- Thể trung bình:
+ Thể trạng thai phụ hơn mệt, có triệu chứng sốc nhẹ.
+ Ra máu vừa.
+ Tử cung co cứng nhiều.
+ Tim thai chậm, rời rạc.
+ Có xuất hiện các triệu chứng nhiễm độc thai nghén.
– Hình thái nặng: còn gọi là phong huyết tử cung rau hay hội chứng Couvelaire.
+ Thể trạng bệnh nhân bị sốc nặng.
+ Ra máu nhiều.
– Tử cung cứng như gỗ.
+ Thai chết.
+ Có xuất hiện các dấu hiệu nhiễm độc thai nghén rõ. Chẩn đoán cần phân biệt với đa ối cấp gây tử cung căng cứng, rau tiền đạo gây chảy máu hoặc vỡ tử cung gây sốc chảy máu và con chết.
Ø Tiến triển và biến chứng
– Sốc nặng: rau bong non là một bệnh lý toàn thân, tiến triển từ nhẹ sang nặng làm cho thai phụ ở trong tình trạng sốc và có thể tử vong do sốc.
– Chảy máu: biến chứng rối loạn đông máu do thromboplastin tăng, giải phóng plasmin tự do. Plasmin thường bị hoạt hóa làm cho sinh sợi huyết bắc huy đổi về tính chất và cấu trúc hóa học, không còn có tác dụng trong quá trình đông máu đã phát sinh hội chứng đông máu rải rác trong lòng mạch và tan sinh sợi huyết.
– Tổn thương thận:
+ Độ lọc cầu thận giảm, đái ít.
+ Urê máu tăng, nước tiểu giảm.
+ Vô niệu.
+ Tổn thương thận tăng gây sốc càng nặng ngược lại (sốc càng tiến triển làm cho tổn thương thận tăng lên).
– Tử vong:
+ Tử vong mẹ thường gặp trong thể nặng không được xử trí kịp thời.
+ Tử vong con là 100% trong thể nặng.
– Biến chứng muộn:
+ Viêm gan cấp tính.
+ Viêm thận mạn tính.
+ Viêm tuyến thượng thận.
+ Cao huyết áp.
Ø Xử trí
- Trước đẻ
– Thể ẩn: thường không phát hiện được nên không xử trí được gì
– Thể nhẹ:
+ Giảm đau, giảm cơn co: papaverin 40g x 1 đến 6 ống, tiêm bắp.
+ Can thiệp sản khoa: bấm ối cho cuộc để được nhanh chóng, nếu thấy khó khăn thì mổ lấy thai ngay.
Trong khi mổ lấy thai cần đánh giá tổn thương tử cung, vì trong thể nhẹ triệu chứng lâm sàng đôi khi không rõ rệt, nhưng tổn thương tử cung lại nặng.
Nếu có tổn thương bầm tím nhiều lan rộng từ sừng trước đến mặt sau tử cung và dây chằng rộng thì phải cắt tử cung.
– Thể trung bình:
+ Chống sốc:
- Bù nước và điện giải, có thể truyền máu nếu chảy máu, cortison (prednisolon) 5 – 10 mg.
- Kháng histamin tổng hợp và phong bế thần kinh giao cảm (phenergan, lagartyl).
- Trợ tim.
+ Chống rối loạn đông máu:
- E.A.C: 4g đến 8g, tiêm tĩnh mạch.
- Transamin: 250 mg đến 100 mg, truyền tĩnh mạch.
- Fibrinogen: 2g – 4g, tiêm tĩnh mạch.
+ Lấy thai ra nếu cổ tử cung đã mở rộng, bấm ối sẽ đẻ thai nhanh. Trường hợp cổ tử cung còn đóng kín để thai số đường dưới sẽ diễn biến nặng, nguy hiểm cho mẹ và con thì nên mổ lấy thai ngay.
– Thể nặng:
+ Chống sốc tích cực.
+ Thở oxy liên tục.
+ Chống rối loạn đông máu:
. Truyền máu tươi.
- E.A.C: 4g đến 8g, tiêm tĩnh mạch.
. Trasamin: 250mg mạch. 1000mg, truyền tĩnh
. Fibrinogen: 4g – 8g, tiêm truyền tĩnh mạch.
+ Chống vô niệu: lasix, tiêm bắp thịt hay tĩnh mạch liều cao.
+ Chống nhiễm trùng bằng kháng sinh.
+ Mổ lấy thai mặc dù con đã chết và thường là cắt tử cung bán phần, vì hay kết hợp với tổn thương tử cung nặng.
Xử trí thể nặng phải nhanh chóng, phải song song với hồi sức, chống sốc.
- Sau đẻ
– Tiếp tục điều trị chống sốc,
– Theo dõi chảy máu sau đẻ, sau mổ, đặc biệt là khi còn để tử cung. Nếu thấy ra máu đen nhiều, điều trị nội khoa chống đông máu không có kết quả thì phải mổ cắt tử cung.
– Theo dõi chức năng gan và thận để điều trị kịp thời.
– Theo dõi nhiễm trùng sau đẻ.
– Chú ý hồi sức sơ sinh chu đáo.
