BỆNH TIM VÀ THAI NGHÉN

BỆNH TIM VÀ THAI NGHÉN

Thai phụ bị bệnh tim hay có nhiều biến chứng và có tỷ lệ tử vong mẹ cao. Vì vậy người ta gọi là “tai biến tim sản”. Tỷ lệ tử vong mẹ khi có thai vào đầu thế kỷ 20 khoảng từ 40 – 50% nay đã giảm xuống 0,3 – 0,5%.

* ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH TIM ĐỐI VỚI THAI NGHÉN

Bệnh tim ảnh hưởng đến tuần hoàn tử cung – rau, lưu lượng máu giảm hơn bình thường, ảnh hưởng đến thai, gây thai kém phát triển và dễ có nguy cơ chuyển dạ đẻ non.

* ẢNH HƯỞNG CỦA THAI NGHÉN ĐỐI VỚI BỆNH TIM

Lúc có thai làm cho bệnh tim nặng thêm, gây suy tim và dễ có nguy cơ phù phổi cấp do các nguyên nhân:

– Tim phải làm việc tăng lên (tăng gánh thất trái) để đáp ứng yêu cầu cung cấp oxy cho mẹ và con tăng từ 10 – 20%, đặc biệt là khi chuyển dạ.

– Tăng lưu lượng tim, đặc biệt vào tháng thứ 7 tăng 40 – 50%, sau đó giảm dần đến khi đẻ.

– Tăng tốc độ tuần hoàn: bình thường 7 giây với tiểu tuần hoàn và 14 giây với đại tuần hoàn.

– Tim co bóp để đẩy lượng máu nhiều hơn (34%), trong đó chủ yếu là lượng huyết tương tăng 40%, lượng hồng cầu tăng ít 20%.

– Ứ nước và muối do thay đổi nội tiết (estrogen, progesteron và các hormon tuyến giáp) làm trở kháng sức bóp của tim tăng lên.

– Tăng gánh nặng tim phải vì máu ở động mạch truyển thẳng sang tĩnh mạch ở rau.

* TRIỆU CHỨNG VÀ CHẨN ĐOÁN

– Thể trạng xanh, yếu, phù chân hoặc toàn thân.

– Khó thở, mức độ khó thở tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh tim.

– Tức ngực.

– Nhịp tim nhanh.

– Có tiếng thổi bệnh lý ở các ổ van tim tùy theo các loại tổn thương van tim.

* XỬ TRÍ

  1. Nguyên tắc chung

– Bảo vệ mẹ là chính, có chiếu cố đến con (nếu là con so).

– Phải nắm vững loại tổn thương van tim.

  1. Trước đẻ

Điều trị nội khoa bảo tồn:

– Áp dụng cho tất cả những thai phụ bị bệnh tim nhẹ, con so chưa có chỉ định phá thai.

– Nghỉ ngơi.

– Chế độ ăn ít muối (trong 3 tháng đầu), kiêng muối (trong 3 tháng sau).

– Điều trị nội khoa sau 7 ngày mà ít hoặc không có hiệu quả, thai phụ vẫn khó thở, độ suy tim không giảm thì tùy theo tuổi thai để chọn phương pháp đình chỉ thai nghén thích hợp và phải chọn thời điểm thai phụ khá hơn để thực hiện thủ thuật, không nên cầu toàn để thai phụ thật ổn định vì trên thực tế thai phụ chỉ tiến triển nặng hơn lên.

+ Thai dưới 1 tháng: hút thai.

+ Thai 3 tháng: nạo thai.

+ Thai trên 3 tháng: mổ cắt tử cung cả khối thai.

+ Thai đủ tháng: mổ lấy thai và nên cắt tử cung tiếp theo để tránh nhiễm trùng.

  1. 3. Sau đẻ

– Theo dõi phù phổi cấp và điều trị nội khoa như trước đẻ.

– Điều trị kháng sinh.

– Không nên cho con bú.

* BIẾN CHỨNG

– Phù phối cấp: là biến chứng hay gặp và dễ gây tử vong. Thai phụ khó thở dữ dội, sùi bọt hồng, có dấu hiệu suy tim độ 3, phổi đầy ran ẩm.

Xử trí:

+ Điều trị suy tim như đã nói ở trên.

+ Giảm lượng tuần hoàn bằng lasix, tiêm tĩnh mạch cách 2 giờ tiêm 1 đến 2 ống (10 mg – 20 mg), cho đến khi gan bé lại và phổi hết ran ẩm. Cho thể tiêm 20 – 30 ống/24 giờ.

– Suy tim: triệu chứng và điều trị như đã nói ở trên.

– Tắc mạch do huyết khối: tùy theo vị trí tắc mạch mà có tiên lượng khác nhau.

+ Tắc mạch ở chân: tiên lượng tốt hơn.

+ Tắc mạch phổi: thai phụ tức ngực dữ dội và tử vong nhanh chóng.

+ Tắc mạch ở não: xuất hiện triệu chứng liệt hoặc giảm phản xạ vận động khu trú.

Xử trí:

+ Nghỉ ngơi, bất động.

+ Chống đông máu bằng heparin 25000 đơn vị/ngày.

Thời gian tiêm tùy thuộc vào xét nghiệm yếu tố đông máu.

+ Chống nhiễm trùng bằng kháng sinh.

– Viêm nội tâm mạc: là biến chứng nặng.

Bệnh nhân khó thở nhiều, sốt cao liên tục, suy tim độ III, nghe tim có tiếng ngựa phi, loạn nhịp.

Xử trí:

+ Nghỉ ngơi, bất động.

+ Chống nhiễm trùng bằng kháng sinh mạnh phối hợp tiêm nhỏ giọt rất chậm đường tĩnh mạch.

+ Giảm lượng tuần hoàn: lasix phối hợp kalium.

+ Prednisolon: 30-60 mg/ngày, trộn lẫn với kháng sinh truyền nhỏ giọt.

+ Vitamin C: 1g-2g/ngày

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *