NHIỄM TRÙNG BẨM SINH Ở TRẺ MỚI SINH

NHIỄM TRÙNG BẨM SINH Ở TRẺ MỚI SINH

Những thai phụ có tiền căn sinh con bị nhiễm trùng bẩm sinh nên được đánh giá khả năng tái phát (nếu chưa được thực hiện trong lần khám thai đầu tiên). Sự hình thành kháng thể trong máu mẹ kháng lại rubella và parvovirus giúp bảo vệ các thai kỳ kế tiếp và làm cho nguy cơ tái phát toxoplasmosis và viêm gan virus B giảm xuống. Viêm gan virus C và HSV cũng giảm nguy cơ tái phát khi mẹ có kháng thể, và khả năng tiệt trừ khi dùng kháng sinh đối với các vi khuẩn giang mai, lậu, Chlamydia, và Listeria có thể giúp chúng ta phòng ngừa các loại nhiễm trùng này. Dùng kháng sinh dự phòng nhằm làm giảm GBS trong hệ vi khuẩn âm đạo sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm GBS qua cho trẻ sơ sinh, và các loại thuốc kháng virus (dùng trước sinh và trong chuyển dạ) sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con.

NHIỄM CMV

Cytomegalovirus (CMV) là tác nhân gây nhiễm trùng bẩm sinh phổ biến nhất trên toàn thế giới. CMV được tìm thấy trong nhiều loại dịch tiết, và các trung tâm nuôi dạy trẻ là những nơi lây nhiễm phổ biến. Nhiễm CMV nguyên phát có liên quan đến nồng độ virus (trong máu) cao hơn và là một yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng bẩm sinh. Sau giai đoạn nhiễm nguyên phát, virus sẽ tạm “ngủ đông” và sẽ được tái hoạt nhiều lần sau đó. Mặc dù có kháng thể IgG nhưng virus vẫn có thể lây nhiễm. Các thai phụ thường không có triệu chứng; tuy nhiên, 10%-15% số phụ nữ bị nhiễm sẽ có các triệu chứng như mệt mỏi, nổi hạch, các test chức năng gan bất thường, và viêm họng.

Nhiễm CMV nguyên phát (có nồng độ virus cao) có liên quan với nguy cơ truyền qua thai nhi là 40%-50%, và có thể dẫn đến các nguy cơ nặng nề cho thai (tăng cả bệnh suất và tử suất). Nếu virus được tái hoạt lại (sau thời gian “ngủ đông”) thì nguy cơ truyền qua thai chỉ khoảng 1%. Với tỷ lệ hiện mắc cao như vậy, nhưng may mắn thay là đa số các trẻ mới sinh đều không có triệu chứng. Chỉ khoảng 5% biểu hiện hội chứng bẩm sinh mức độ nặng bao gồm IUGR, tật đầu nhỏ, các nốt calcium hóa nội sọ, thiểu năng tâm thân, rối loạn cảm giác thần kinh, gan-lách to, và vàng da. Tuy nhiên, một số trường hợp trẻ không có triệu chứng sẽ bị thiểu năng tâm thần hoặc không có khả năng học hỏi trong giai đoạn sau lúc lớn lên.

Chẩn đoán xác định mẹ bị nhiễm CMV dựa vào các test chuẩn độ trong giai đoạn cấp và giai đoạn phục hồi. Kháng thể đặc hiệu IgM kháng CMV giúp chẩn đoán đợt nhiễm cấp tính; ngoài ra cũng có thể sử dụng tiêu chuẩn nồng độ kháng thể IgG tăng lên 4 lần. Cấy virus thường không giúp ích gì. Nên nghi ngờ thai bị nhiễm khi thấy các dấu hiệu IUGR, tật đầu nhỏ, vôi hóa nội sọ, bụng báng, ruột tăng echo, và thiểu ối. Lấy dịch ối làm PCR tìm DNA của CMV cùng thường được lựa chọn để chẩn đoán.

Điều trị một thai phụ nhiễm CMV chủ yếu là hỗ trợ. Nếu bị nhiễm nguyên phát thì nên chỉ định kiểm tra dịch ối. Ta nên tư vấn kỹ cho bệnh nhân vì mặc dù tỷ lệ lây nhiễm cho con trong trường hợp nhiễm nguyên phát là cao, nhưng tỷ lệ trẻ sinh ra là bình thường cũng rất cao. Hiện tại chưa có vaccine. Liệu pháp kháng virus chưa được chứng minh giúp giảm tỷ lệ lây nhiễm cho con. Một vài số liệu hạn chế cho thấy rằng IgG kháng đặc hiệu CMV có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, mặc dù ta cần nhiều nghiên cứu hơn. Liệu pháp kháng virus dùng cho trẻ mới sinh có thể giúp giảm nguy cơ bị các di chứng về sau.

CÁC LOẠI NHIỄM TRÙNG KHÁC

Khi đã xác định được bị nhiễm một tác nhân có khả năng gây nhiễm trùng bẩm sinh trong thai kỳ, điều quan trọng cần nhớ là ta phải xác định xem đối với tác nhân đó có chỉ định điều trị không, và có nên tránh một số thủ thuật chẩn đoán nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm từ mẹ sang con hay không. Bệnh nhân thường sẽ hỏi về độ an toàn của việc cho con bú sữa mẹ và khả năng con mình bị nhiễm trùng bẩm sinh. Trừ trường hợp mẹ bị nhiễm HIV hoặc đầu vú bị khô nứt/chảy máu làm tăng nguy cơ lây nhiễm các tác nhân theo đường máu, các trường hợp khác cho bú mẹ là an toàn.

Khi nghi ngờ thai nhi bị nhiễm trùng bẩm sinh, chúng ta nên thảo luận các biến chứng có khả năng xảy ra với cặp vợ chồng. Mặc dù có nhiều yếu tố giúp xác định xem mức độ nặng của nhiễm trùng thai nhi bao gồm bản chất của tác nhân gây bệnh, hai yếu tố đóng vai trò quan trọng là mẹ có bị nhiễm nguyên phát không và có nhiễm trong giai đoạn sớm của thai kỳ hay không.

Khi đã sinh bé ra ngoài, và bác sĩ nhi khoa đã xác nhận là bé bị nhiễm trùng bẩm sinh, ta nên thông báo cho cha mẹ biết về nguy cơ tái phát và các hành vi giúp giảm thiểu hoặc ngăn ngừa tái phát

ĐIỂM NHẤN LÂM SÀNG

– Một thai nhi không có bất thường cấu trúc cơ thể học mà bị phù nhau thai không do miễn dịch  nên được khảo sát xem có bị nhiễm trùng bẩm sinh không

– Những trẻ mới sinh có điểm số Apgar thấp, giới hạn tăng trưởng, và chấm xuất huyết petechiae) nên được bác sĩ nhi khoa khám để xem có bị nhiễm trùng bẩm sinh không

– Nếu bệnh nhân được đánh giá cẩn thận và đầy đủ trước sinh và trong khi chuyển dạ, và được dùng đủ các loại thuốc kháng virus thì nguy cơ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con khá thấp

– Các thủ thuật chẩn đoán xâm lấn, vd. chọc ối (amniocentesis), có thể được dùng trong mọi trường hợp có nhiễm trùng ở mẹ, sau khi chúng ta đã tư vấn cẩn thận cho bệnh nhân về nguy cơ trên lý thuyết và nguy cơ thực tế của các thủ thuật này

– Mổ lấy thai với lý do nhiễm trùng mẹ chỉ được chỉ định trong một số trường hợp nhiễm HIV và HSV

– Nguyên nhân gây nhiễm trùng bẩm sinh thường gặp nhất là Cytomegalovirus

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *