HỘI CHỨNG HELLP

HỘI CHỨNG HELLP

Xử trí và điều trị hội chứng HELLP

Nên chỉ định công thức máu bao gồm đếm số lượng tiểu cầu, phết máu ngoại biên, kiểm tra chức năng đông máu, nồng độ AST, creatinine, glucose, bilirubin và LDH huyết thanh. Muốn chẩn đoán hội chứng HELLP cần có đủ tất cả các tiêu chuẩn sau: tiểu cầu < 100,000/mm³, AST > 70 IU/L (> 2 lần giới hạn trên của mức bình thường), phết máu ngoại biên bất thường, LDH > 600 IU/L, và/hoặc bilirubin > 1.2 mg/dL.

Quá trình đánh giá sức khỏe thai bao gồm nonstress test, trắc đồ sinh-vật lý và siêu âm nhằm đánh giá sự tăng trưởng của thai nhi và giúp loại trừ tình trạng chậm tăng trưởng trong tử cung

Đối với thai > 34 tuần, có chỉ định cho sinh ngay. Đối với thai nhỏ hơn 34 tuần, nên cho dùng corticosteroids trước sinh và lên kế hoạch cho sinh trong vòng 48 giờ nếu tình trạng mẹ và thai có thể chịu đựng được. Do tỷ lệ bệnh suất và tử suất tăng cao khi có hội chứng HELLP, người ta không khuyến cáo điều trị bảo tồn kéo dài quá 48 giờ.

Hội chứng HELLP không phải là một chỉ định của mổ lấy thai ngay cấp cứu. Những bệnh nhân có cổ tử cung thuận lợi nên được cho thử thách chuyển dạ. Có thể khởi phát chuyển dạ bằng cách truyền oxytocin ở tất cả những bệnh nhân có tuổi thai > 30 tuần. Đối với bệnh nhân có tuổi thai < 30 tuần và cổ tử cung không thuận lợi, có thể lựa chọn giữa khởi phát chuyển dạ bằng prostaglandin hoặc lên chương trình mổ lấy thai.

Điều quan trọng là cần hội chẩn với ê-kíp gây mê. Tiến hành gây tê ngoài màng cứng phải hết sức cẩn thận vì nhiều bác sĩ gây mê khá ngại khi phải tiến hành đặt catheter ngoài màng cứng lúc tiểu cầu < 75000/mm³. Ở những trường hợp giảm tiểu cầu nặng, gây mê toàn thân là lựa chọn lý tưởng khi cần tiến hành mổ lấy thai. Thủ thuật block thần kinh thẹn có chống chỉ định đối với hội chứng HELLP.

Nếu có tình trạng xuất huyết nặng (mảng bầm máu, chảy máu từ nướu/lợi, từ chỗ đâm kim, vết thương hoặc xuất huyết trong phúc mạc) trong hội chứng HELLP và tất cả những bệnh nhân có tiểu cầu < 20.000/mm³, có chỉ định truyền tiểu cầu trước hoặc sau sinh. Nếu có chỉ định mổ lấy thai, cần bắt đầu tiến hành truyền tiểu cầu (khoảng 5-10 đơn vị) trong khi đưa bệnh nhân lên phòng mổ và trước khi đặt nội khí quản ở những trường hợp giảm tiểu cầu nặng (<50.000/mm³). Ở những trường hợp này thường sự tiêu thụ tiểu cầu sẽ diễn ra rất nhanh chóng

Phẫu thuật viên nên cân nhắc việc đặt dẫn lưu (dưới lớp cân, dưới da, hoặc cả hai) do tình trạng thoát mạch toàn thân. Nguy cơ tạo lập khối máu tụ mà không có những biện pháp phòng ngừa là 20%.

Đối với giai đoạn hậu sản ở những bệnh nhân HELLP, chúng ta nên theo dõi kỳ huyết động cũng như tiến hành làm các test đánh giả cần thiết mỗi 6 giờ trong vòng 48 giờ. Nói chung, đa số bệnh nhân sẽ diễn tiến khá hơn trong vòng 48 giờ sau sinh.

Xử trí tình trạng DIC

DIC có thể làm nặng thêm lên hội chứng HELLP và đây là một tình huống cực kỳ nguy hiểm đặc trưng bởi các quá trình tạo lập và ly giải cục máu đông diễn ra đồng thời. Do đó, các yếu tố đông máu sẽ được sử dụng nhanh hơn, dẫn đến việc mau chóng bị thiếu hụt các yếu tố này. Điều trị dứt điểm DIC là loại trừ được nguyên nhân gốc. Trong hội chứng HELLP, thủ phạm chính là thai kỳ, do đó điều trị tận gốc là phải lấy thai ra.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *