CÁC TỔN THƯƠNG LÀNH TÍNH Ở NỘI MẠC TỬ CUNG

CÁC TỔN THƯƠNG LÀNH TÍNH Ở NỘI MẠC TỬ CUNG

I. QUÁ SẢN NỘI MẠC TỬ CUNG

Quá sản nội mạc tử cung là sự phát triển quá mức của lớp nội mạc tử cung, phần lớn là do các chu kỳ kinh không phóng noãn của buồng trứng gây nên, nghĩa là lớp nội mạc tử cung chỉ chịu tác dụng của estrogen đơn thuần (không có progesteron).

Trên lâm sàng, biểu hiện của quá sản nội mạc tử cung là rong kinh. Thường xuất hiện ở tuổi dậy thì hay tiền mãn kinh, song cũng có thể gặp ở lứa tuổi sinh đẻ.

  1. Chẩn đoán

Chủ yếu dựa vào các thăm dò hình ảnh (siêu âm, soi buồng tử cung, chụp tử cung) hay cận lâm sàng (giải phẫu bệnh lý).

1.1. Soi buồng tử cung

Có thể quan sát thấy sự quá sản từng vùng hay toàn bộ dạng polyp. Cần nạo sinh thiết để xác định.

1.2. Siêu âm

Thấy nội mạc tử cung dày (≥ 6mm) qua các tiết diện cắt dọc hay cắt ngang.

1.3. Chụp tử cung

Chụp buồng tử cung sau khi bơm thuốc cản quang thường thấy các hình ảnh sau:

– Chu vi buồng TC ngấm thuốc không đều, có hình răng cưa hay lượn sóng.

– Trên phim tráng thuốc hay tháo thuốc có thể thấy hình ảnh buồng TC không đều, có thể do các polyp nội mạc tử cung gây nên.

1.4. Giải phẫu bệnh lý

Trên hình ảnh vi thể của mảnh sinh thiết thấy:

– Quá sản nội mạc đơn thuần: lớp nội mạc dày lên, cả phần đệm và phần tuyến, tỷ lệ giữa tuyến và lớp đệm bình thường.

– Quá sản dạng adenoma: lúc đó tỷ lệ phần tuyến tăng hơn phần đệm, nóa tạo thành các ống tuyến dày đặc hoặc tạo thành các túi tuyến; hoặc trên bình diện cắt ngang thấy các tuyến có hình dạng bất thường.

  1. Tiến triển

Dễ tái phát sau khi đã nạo bỏ lớp nội mạc tử cung. quá sản.

Từ các quá sản đơn giản có thể tiến triển thành quá sản túi tuyến hay quá sản không điển hình hoặc ung thư nội mạc tử cung sau này.

  1. Điều trị

3.1. Thủ thuật

Nạo bỏ lớp nội mạc tử cung quá sản là cách điều trị tích cực để cầm máu khi bệnh nhân bị rong kinh hay băng huyết.

3.2. Nội khoa

Dùng các thuốc loại progestin tổng hợp như: lutenyl, orgametril hay depo – provera để làm teo niêm mạc tử cung tạm thời và ức chế vùng dưới đồi – tuyến yên.

3.3. Diệt lớp nội mạc tử cung bằng nhiệt

Người ta dùng một quả bóng chất dẻo luồn vào buồng tử cung, sau đó bơm dung dịch có nhiệt độ 70- 80°C để làm chết lớp nội mạc tử cung bằng một máy bơm chuyên dụng.

Kỹ thuật này có thể làm dính buồng TC sau thủ hướt, song cần chắc chắn không phải là quá sản không điển hình hay ung thư niêm mạc tử cung.

3.4. Cắt tử cung

Phẫu thuật cắt tử cung nếu tái phát sau khi nạo và dùng thuốc nội tiết, nhất là ở bệnh nhân trong tuổi tiền mãn kinh.

II. POLYP TỬ CUNG

Polyp tử cung có thể là các u cơ TC có cuống được phủ bởi lớp nội mạc tử cung (thường có kích thước to, d ≥ 2cm đường kính) hay các polyp đơn thuần của nội mạc tử cung (thường nhỏ, d ≤ 1cm đường kính).

Các polyp sợi cơ: thường to và nặng, có thể tụt ra thập thò ở cổ tử cung hay tụt hẳn vào trong âm đạo. Cuống polyp thường dài và nằm sâu trong buồng TC, lớp nội mạc bao phủ polyp dễ bị nhiễm trùng và chảy máu hay tiến triển thành ác tính (10 – 15%).

Các polyp nội mạc đơn thuần thường nhỏ và nhiều, nằm rải rác trên bề mặt lớp niêm mạc hay khu trú ở một vùng.

  1. Chẩn đoán

1.1. Soi buồng tử cung

Soi buồng tử cung có thể quan sát nhưng cũng có thể qua đó bỏ những polyp nhỏ.

1.2. Chụp buồng tử cung

Phương pháp này cho thấy các hình khuyết do polyp tạo nên. Các hình khuyết này có thể to hay nhỏ, nhiều hay ít.

1.3. Siêu âm

Với phương pháp siêu âm có bơm nước vào buồng TC cho phép ta quan sát rõ hình polyp trong buồng tử cung.

Hình ảnh siêu âm đôi khi đặc hiệu hơn chụp buồng TC (nếu kích thước polyp từ 1-2cm đường kính trở lên).

  1. Xử trí

Nếu polyp tụt ra ngoài cổ tử cung có thể cắt polyp đường âm đạo và đốt chân polyp nếu chỗ bám trong buồng cổ TC.

Nếu polyp to và cuống ở sâu thì mổ cắt polyp hay cắt cả TC tuỳ theo tuổi tác và số lần sinh đẻ.

Nếu polyp nhỏ trong buồng TC, có thể cắt polyp qua soi buồng TC.

III. DÍNH BUỒNG TỬ CUNG

Dính buồng tử cung thường xuất hiện sau bệnh lý lao niêm mạc tử cung hay sau thủ thuật (nạo, sẩy hay phá thai, nạo sót rau sau đẻ).

  1. Triệu chứng lâm sàng

Kinh ít hay vô kinh nguyên phát (lao) hay thứ phát (sau thủ thuật).

Đau bụng kinh: khi dính làm cho kinh thoát ra khó khăn.

Vô sinh hay sẩy thai liên tiếp, thai chết lưu.

  1. Chẩn đoán

Soi buồng tử cung: có thể quan sát được thể dính và làm thủ thuật tách dính.

Chụp buồng tử cung: có những hình khuyết, tuỳ vị trí và diện dính sẽ tạo ra hình ảnh buồng tử cung bất thường do biến dạng khi bị dính toàn bộ (do lao) bệnh nhân bị vô kinh, vô sinh và khi chụp không thấy hình buồng TC (bơm thuốc cản quang vào buồng tử cung).

  1. Xử trí

Soi buồng TC sau khi đã nong rộng cổ tử cung và tách dính bằng dụng cụ chuyên dùng.

Song với dính toàn bộ buồng TC do lao niêm mạc TC thì phương pháp này thường không đem lại kết quả.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *