NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH TRẺ EM

NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH (NKHHCT) TRẺ EM

  1. NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân gây NKHHCT do virus và vi khuẩn.

– Virus là nguyên nhân chủ yếu gây NKHHCT ở trẻ em vì:

+ Virus có ái lực với đường hô hấp.

+ Khả năng lây lan của virus dễ dàng.

+ Tỷ lệ người lành mang virus cao.

+ Khả năng miễn dịch đối với virus ngắn và yếu.

Những virus thường gặp gây bệnh NKHHCT ở trẻ em là:

+ Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncitial virus).

+ Virus cúm (Influenzae virus).

+ Virus á cúm (Parainfuenzae virus).

+ Virus sởi.

+ Virus hạch Adenovirus.

+ Rhinovirus.

+ Enterovirus.

+ Cornavirus và các loại virus khác.

– Vi khuẩn

Ở các nước đang phát triển vị khuẩn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong NKHHCT. Những vi khuẩn thường gặp gây NKHHCT ở trẻ em là:

+ Hemophilus influenzae.

+ Phế cầu (Streptococcus pneumoniae).

+ Tụ cầu (Streptococcus auerus)

+ Klebsiella pneumoniae.

+ Chlamydia trachomatis và các vi khuẩn khác.

  1. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đang phát triển và ở nước ta đều có nhận xét chung về các yếu tố dễ gây NKHHCT ở trẻ em (yếu tố nguy cơ)

– Trẻ đẻ ra có cân nặng thấp (dưới 2500 g): Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi có cân nặng lúc sinh dưới 2500g là 26,4% trẻ sống, trong khi tỷ lệ này đối với trẻ có cân nặng lúc sinh trên 2500g là 6,8%.

– Suy dinh dưỡng cũng là yếu tố dễ mắc NKHHCT hơn ở trẻ bình thường và khi bị NKHHCT thì thời gian điều trị kéo dài hơn, tiên lượng xấu hơn.

– Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: Nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn so với trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ. Một nghiên cứu cho thấy: Nếu nguy cơ tương đối (RR) của tử vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ là 1, thì ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ + sữa bò là 1,2 và trẻ chỉ được nuôi bằng sữa bò là 3,3.

– Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhấy cũng như hoạt động của các đại thực bào, sự sản sinh các globulin miễn dịch, do đó trẻ dễ bị NKHHCT.

– Khói thuốc lá cũng là một yếu tố gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ. Theo dõi cho biết số mắc viêm phổi hàng năm ở trẻ em có bố mẹ không hút thuốc lá là 6,2%; nếu có 1 người hút thì tỷ lệ tăng lên 9,7%; nếu cả bố và mẹ cùng hút, thì tỷ lệ này tăng lên đến 15,4%.

– Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây NKHHCT ở trẻ em

– Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là những điều kiện làm trẻ dễ mắc NKHHCT. Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị NKHHCT.

  1. PHÂN LOẠI NKHHCT

3.1. Phân loại theo vị trí giải phẫu (vị trí tổn thương)

Lấy nắp thanh quản làm ranh giới để phân ra nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới: Nếu tổn thương phía trên nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp trên; tổn thương dưới nắp thanh quản là nhiễm khuẩn hô hấp dưới

Nhiễm khuẩn hô hấp trên là bệnh lý hay gặp và thường nhẹ, bao gồm các trường hợp viêm mũi – họng. VA, viêm amidan, viêm tai giữa, ho, cảm lạnh. Nhiễm khuẩn hô hấp dưới ít gặp hơn nhưng thường nặng, bao gồm các trường hợp viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi.

3.2. Phân loại theo mức độ nặng nhẹ

Phân loại theo mức độ nặng nhẹ hay được sử dụng nhằm xử trí kịp thời các trường hợp NKHНСТ.

NKHHCT ở trẻ em có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng, nhưng theo Tổ chức Y tế thế giới có thể dựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh.

– Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dấu hiệu nguy kịch.

– Viêm phổi nặng: Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực.

– Viêm phổi: Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực.

– Không viêm phổi (ho và cảm lạnh): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực.

  1. CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG

4.1. Dấu hiệu thường gặp

– Ho

– Sốt

– Chảy nước mũi

– Nhịp thở nhanh

+ Trẻ <2 tháng: nhịp thở ≥ 60 lần/phút là thở nhanh.

+ Trẻ 2 tháng đến 12 tháng: nhịp thở ≥ 50 lần/phút là thở nhanh.

+ Trẻ 12 tháng – 5 tuổi: nhịp thở ≥ 40 lần/phút là thở nhanh.

– Rút lõm lồng ngực (RLLN)

+ RLLN là lồng ngực phía dưới bờ sườn hoặc phần dưới xương ức rút lõm xuống trong thì hít vào.

+ Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ có RLLN nhẹ thì chưa có giá trị chẩn đoán vì lồng ngực của trẻ còn mềm. RLLN phải mạnh và sâu mới có giá trị chẩn đoán.

– Thở khò khè (cò cử – Wheezing)

+ Tiếng khò khè nghe ở thì thở ra.

+ Tiếng khò khè xuất hiện khi lưu lượng không khí bị tắc lại ở trong phối vì thiết diện các phế quản nhỏ bị hẹp lại (do co thắt cơ trơn phế quản, phù nề niêm mạc phế quản, tăng tiết dịch phế quản, ứ đọng đờm dãi).

+ Khò khè hay gập trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi.

– Thở rít (Stridor)

+ Tiếng thở rít nghe ở thì hít vào.

+ Tiếng thở rít xuất hiện khi luống khí đi qua chỗ hẹp ở thanh – khí quản.

+ Hay gặp trong mềm sụn thanh quản bẩm sinh, viêm thanh quản rít, dị vật đường thở.

– Tím tái.

4.2. Dấu hiệu nguy kịch

4.2.1. Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

– Trẻ không uống được hoặc bỏ bú.

– Co giật.

– Ngủ li bì hoặc khó đánh thức

Là khi gọi hoặc gây tiếng động mạnh trẻ vẫn ngủ li bì hoặc mở mắt rồi lại ngủ ngay (khó đánh thức).

– Thở rít khi nằm yên

– Suy dinh dưỡng nặng.

4.2.2. Dấu hiệu nguy kịch ở trẻ dưới 2 tháng tuổi

– Bú kém hoặc bỏ bú.

– Co giật.

– Ngủ li bì khó đánh thức.

– Thở rít khi nằm yên.

– Thở khò khè.

– Sốt hoặc hạ nhiệt độ.

  1. XỬ TRÍ CỤ THỂ

5.1. Hướng dẫn bà mẹ chăm sóc tại nhà

5.1.1. Chăm sóc trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

Nuôi dưỡng:

Cho trẻ ăn tốt hơn khi ốm, bồi dưỡng thêm khi trẻ khỏi bệnh đề phòng suy dinh dưỡng.

Cho trẻ uống nhiều nước để bù lại lượng nước mất do sốt, thở nhanh, nôn trớ, tiêu chảy.

– Giảm ho, làm dịu đau họng bằng các loại thuốc đông y không gây độc hại như quất hấp đường, hoa hồng hấp dường, mật ong….

– Lau sạch làm thông mũi.

– Vấn đề quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy 1 trong các dấu hiệu sau:

+ Thở nhanh hơn.

+ Khó thở hơn.

+ Không uống được nước.

+ Trẻ mệt hơn.

5.1.2. Chăm sóc trẻ dưới 2 tháng

– Cho trẻ bú mẹ nhiều hơn bình thường.

– Lau sạch làm thông mũi.

– Giữ ấm cho trẻ nhất là về mùa lạnh.

– Quan trọng nhất là theo dõi và đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế nếu thấy một trong các dấu hiệu sau:

+ Thở nhanh hơn.

+ Khó thở hơn.

+ Bú kém hơn.

+ Trẻ mệt hơn.

5.2. Cách sử dụng kháng sinh

5.2.1. Kháng sinh tuyến 1: dùng tại tuyến cơ sở để điều trị viêm phổi

Dùng một trong 3 loại kháng sinh sau:

– Co-trimoxazol (Biseptol, Bactrim, Trimazon) gom trimethoprim (TMP) và sulfamethoxazol (SMX) với tỷ lệ 1:5.

Là loại kháng sinh ức chế vi khuẩn, có hiệu lực với hầu hết các loại vi khuẩn gây bệnh NKHHCT như phế cầu, Hemophilus influenzae, tụ cầu và các loại vi khuẩn Gram (-).

Không dùng cho trẻ sơ sinh đẻ non hoặc có vàng da.

Liều lượng: 4mg (TMP) hoặc 20 mg (SMX)/kg/lần × 2 lần/ngày, dùng trong 5-7 ngày.

– Ampicilin

Là một loại penicilin bán tổng hợp, có tác dụng diệt nhiều loại vi khuẩn Gram (+) và một vài vi khuẩn Gram (-). Nhưng hiện nay, do hiện tượng kháng thuốc, chỉ định dùng Ampicilin là rất hạn chế.

Liều lượng: 50 mg/kg/lần x 2 lần/ngày, dùng trong 5-7 ngày.

– Amoxicilin

Là một dẫn chất của ampicilin nhưng hấp thu tốt hơn qua đường tiêu hoá và xâm nhập được nhiều hơn vào các dịch tiết đường hô hấp vì vậy sử dụng để điều trị các trường hợp NKHHCT tại cơ sở rất tốt.

Liều lượng: 15 mg/kg/lần x 2 lần/ngày, dùng trong 5-7 ngày.

5.2.2. Liều kháng sinh đầu

– Dùng cho trẻ bị viêm phổi nặng hoặc bệnh rất nặng phải chuyển đi bệnh viện mà khoảng cách từ nhà đến bệnh viện trên 5 km hoặc thời gian đi bộ trên 1 giờ.

– Cách dùng:

Một liều Co-trimoxazol như ở trên.

Hoặc benzyl penicilin 100.000 dv/kg tiêm bắp.

5.2.3. Kháng sinh tuyến 2

Điều trị viêm phổi nặng tại bệnh viện, dùng một trong các công thức sau:

– Benzyl penicilin

– Benzyl penicilin + Gentamicin

– Chloramphenicol

– Oxacilin( cloxacilin hoặc methicilin) + Gentamicin nếu nghi ngờ do tụ cầu.

– Cephalosporin.

5.3. Xử trí sốt

– Đặt trẻ nằm phòng thoáng mát.

– Nới rộng quần áo, tã lót.

– Cho trẻ uống nhiều nước.

– Chườm mát.

– Khi trẻ sốt ≥38,5°C dùng thuốc hạ sốt paracetamol 10 – 15 mg/kg/lần.

5.4. Xử trí khò khè

– Nếu có khó thở: Dùng thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh: Khí dung salbutamol.

– Nếu không khó thở: Uống salbutamol. Uống salbutamol có tác dụng sau 30 phút, tác dụng tối đa vào khoảng 2 – 3 giờ và kéo dài tới 4 – 6 giờ.

+ Trẻ 2 tháng – 12 tháng: 1mg/lần x 3 lần/ngày

+ Trẻ 1-5 tuổi: 2 mg/lần x 3 lần/ngày

  1. PHÒNG BỆNH

Để giảm tỷ lệ tử vong và mắc bệnh NKHHCT ở trẻ em, cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh sau:

– Làm tốt công tác quản lý thai nghén để đảm bảo trẻ không bị đẻ non, đẻ thấp cân. Tổ chức cuộc đẻ an toàn không để trẻ hít phải nước ối, không bị ngạt.

– Đảm bảo nuôi trẻ bằng sữa mẹ, cho trẻ bú mẹ sau khi đẻ càng sớm càng tốt, ăn sam một cách khoa học đảm bảo chế độ dinh dưỡng, đủ vitamin đặc biệt là vitamin A.

– Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch.

– Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ. Nhà ở và lớp học của trẻ cần thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, không đun bếp trong nhà, không hút thuốc trong buồng trẻ.

– Giữ ấm cho trẻ về mùa đông và khi thay đổi thời tiết.

– Phát hiện sớm và xử lý đúng các trường hợp mắc bệnh NKHHCT theo phác đó.

– Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho bà mẹ về cách phát hiện, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khi bị NKHHCT.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *