TINH DỊCH ĐỒ

TINH DỊCH ĐỒ

ĐẠI CƯƠNG

Quá trình sinh tinh bắt đầu từ các ống sinh tinh của tinh hoàn. Các hormon ảnh hưởng đến sự sinh tinh gồm có LH. FSH, testosteron, ngoài ra còn có prolactin và inhibin.

Tinh trùng từ khi bắt đầu quá trình sinh tinh cho đến khi chuẩn bị phóng tinh trải qua một quá trình kéo dài từ 10 – 12 tuần.

Tinh dịch ban đầu bao gồm tinh trùng và dịch tiết từ các ống sinh tinh và mào tinh. Vào thời điểm phóng tinh, sẽ có sự hoà lẫn với dịch tiết từ tiền liệt tuyến (30%) và túi tinh (60%).

Vì quá trình sinh trưởng của tinh trùng kéo dài khoảng 3 tháng, nên rất nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quá trình này. Do đó nếu tinh dịch đồ bất thường nên thực hiện ít nhất 2 lần để đánh giá.

TINH DỊCH ĐỒ

  1. Thời gian kiêng xuất tinh

Thời điểm tốt nhất để lấy tinh dịch thử là sau khi kiêng giao hợp hoặc xuất tinh từ 3 đến 5 ngày. Nếu kiêng dưới 3 ngày, có thể giảm số lượng tinh trùng và giảm khả năng thụ tinh của tinh trùng. Nếu kiêng trên 5 ngày, có thể giảm độ di động và tăng số lượng tinh trùng chết và dị dạng.

  1. Thời điểm phân tích mẫu thử

Tinh dịch đồ tốt nhất nên thực hiện trong vòng 1 giờ sau khi lấy mẫu.

Trong trường hợp đặc biệt không được để quá 2 giờ. Nếu để lâu tinh trùng sẽ giảm độ di động và tăng tỉ lệ tinh trùng chết.

  1. Quan sát đại thể

Nếu tinh dịch mới lấy tại phòng khám, cho mẫu thử tự ly giải (liquefation) trong tủ ấm 37°C khoảng 20 phút. Sau đó lắc đều mẫu thử xem tinh dịch đã ly giải chưa. Nếu chưa ly giải có thể để trong tủ ấm 10 – 15 phút nữa. Bình thường tinh dịch ly giải trong vòng 20 phút. Hiện tượng ly giải chủ yếu do các men của tiền liệt tuyến sản xuất, do đó nếu thời gian ly giải lâu hay không ly giải thường do bất thường của tiền liệt tuyến (hay gặp viêm tiền liệt tuyến).

Tinh dịch thường có màu trắng xám, đục. Nếu tình dịch ngả màu vàng, có thể lẫn nước tiểu hoặc nhiễm trùng. Nếu màu hồng có thể do lẫn máu. Tinh dịch loãng và trong thường có tình trạng thiếu tinh hay vô tinh. Mẫu tinh dịch bình thường tương đối đồng nhất. Nếu có các sợi chất nhầy hay lợn cợn nhiều, thường do bệnh lý viêm nhiễm đường tiết niệu.

Thể tích tinh dịch có thể đo bằng bơm tiêm. Bình thường thể tích tinh dịch trên 2ml. Cần ghi nhận có rơi vãi lúc lấy mẫu hay không?

Độ nhớt (vicosity) được đánh giá bằng cách quan sát giọt tinh dịch nhỏ ra khỏi bơm tiêm, bình thường giọt tinh dịch bị kéo dài không quá 2cm.

pH tinh dịch thường trong giới hạn từ 7,2 – 8,4.

  1. Vi thể

4.1. Tính chất chung

Nhỏ 10µl tỉnh dịch lên lam kính và đậy lá men để soi tươi dưới kính hiển vi. Nên xem và đánh giá lam kính không quá 5 phút. Đánh giá sơ lược với vật kính 10X, sau đó chuyển sang vật kính 20X.

Nếu thấy có nhiều cặn, vi trùng hay các vi sinh vật khác, nên gửi cấy tinh dịch. Có thể thấy các loại tế bào khác ngoài tinh trùng như bạch cầu, tế bào thượng bì. Nếu thấy nhiều tế bào tròn, thường là bạch cầu hay tinh trùng non, cần nhuộm để phân biệt hay đếm số lượng. Nếu có nhiều bạch cầu, thường do nhiễm trùng. Nếu nhiều tinh trùng non, do bất thường quá trình sinh tinh.

Bình thường trong tinh dịch không có hồng cầu.

Ước lượng tỉ lệ tinh trùng bị kết dính (agglutination) và tinh trùng kết đám (aggregation). Tinh trùng kết dính thường do nguyên nhân tự miễn dịch, có kháng thể kháng tinh trùng. Tinh trùng có thể dính nhau theo kiểu đầu-đầu, đuôi-đuôi, hoặc đầu – đuôi, đa số tinh trùng kết dính vẫn di động. Tinh trùng kết đám là những đám tinh trùng chết tụ lại với các cặn và tế bào khác, thường là do nguyên nhân nhiễm trùng.

4.2. Độ di động

Đánh giá độ di động của tinh trùng dựa sự phân chia mức độ di động của tinh trùng.

A: tinh trùng di động tiến tới, nhanh

B: tinh trùng di động tiến tới, chậm

C: tinh trùng di động nhưng không tiến tới

D: tinh trùng không di động

Đếm tổng cộng 200 tinh trùng trên nhiều vi trường, sau đó tính tỉ lệ phần trăm mỗi loại. Cách phân loại này tương đối chủ quan, kết quả có thể chênh lệch giữa người đếm khác nhau, tuy nhiên kết quả của 2 người đếm không được phép sai biệt quá xa. Trên 1 vi trường, đếm các tinh trùng di động nhanh trước, sau đó đếm các tinh trùng di động chậm, sau đó đến các tinh trùng không di động, rồi chuyển sang vi trường khác. Khi đếm sử dụng máy đếm bạch cầu.

4.3. Mật độ tinh trùng

Để đếm mật độ tinh trùng, pha loãng tinh dịch với dung dịch pha loãng, thường với tỉ lệ 1/20. Sau đó đếm tinh trùng bằng buồng đếm máu (Neubauer) để ước lượng mật độ tinh trùng trong 1 ml tinh dịch. Đếm số lượng tinh trùng trong 5 ô nhỏ trên buồng đếm, sau đó nhân với 106, ta sẽ được mật độ tinh trùng ước lượng có trong 1ml tinh dịch. Có thể thay đổi nồng độ pha loãng tuỳ theo đánh giá sơ bộ mật độ tinh trùng trên tiêu bản ban đầu, sau đó điều chỉnh cách tính thích hợp.

Với buồng đếm Markler ta có thể đếm độ di động và mật độ tinh trùng cùng một lúc, không cần phải pha loãng. Tuy nhiên, với mật độ tinh trùng thấp, số liệu sẽ không chính xác bằng buồng đếm Neubauer. Giá 1 buồng đếm Markler hiện nay khá đắt, khoảng 10 triệu đồng một cái.

Người ta có thể sử dụng máy phân tích tinh dịch có sự hỗ trợ của kỹ thuật điện toán (computer-assisted semen analysis- CASA) để đánh giá tinh dịch. Máy có thể đánh giá được mật độ tinh trùng, hình dạng tinh trùng và nhiều số liệu chi tiết về độ di động của tinh trùng. Máy đặc biệt có ưu điểm về đánh giá chất lượng di động của tinh trùng. Tuy nhiên còn nhiều tranh cãi về độ chính xác của máy so với phương pháp thủ công. Hiện nay có nhiều thế hệ máy CASA mới với độ chính xác ngày được cải thiện. Giá thành của máy rất cao, thường được áp dụng ở những trung tâm nghiên cứu lớn.

4.4. Tế bào tròn

Mật độ tế bào tròn được đếm cùng lúc với đếm mật độ tinh trùng. Bình thường mật độ tế bào tròn < 1.106/ml. Nếu trên 1.106/ml, cần phải nhuộm bạch cầu để ước lượng mật độ bạch cầu và tinh trùng non.

4.5. Tỷ lệ tinh trùng sống

Nhuộm tinh trùng bằng phương pháp eosin/nigrosin để xác định tinh trùng sống. Dưới tiêu bản kính hiển vi, tinh trùng chết sẽ có màu hồng do bắt màu thuốc nhuộm. Tinh trùng sống sẽ có màu trắng do không bắt màu. Đếm tổng cộng 100 tinh trùng trên nhiều vi trường để ước lượng tinh trùng sống. Bình thường tỉ lệ tinh trùng sống trên 75%

4.6 Hình dạng tinh trùng

Tinh trùng được nhuộm với phương pháp Papanicolau để đánh giá hình dạng tinh trùng. Đánh giá mật độ tinh trùng, nên sử dụng vật kính dầu 100X. Đánh giá hình dạng tinh trùng thường bao gồm 3 phần: đầu, cổ và đuôi.

Bình thường đầu tinh trùng có hình bầu dục, chiều dài khoảng 4-5µm, chiều rộng khoảng 2,5-3,5µm; cực đầu chiếm khoảng 70% chu vi đầu. Đuôi tinh trùng dài khoảng 50µm, không xoắn. Tinh trùng trưởng thành bình thường không còn thấy hạt bào tương.

+ Di dạng đầu: có thể có các dạng đầu to, đầu nhỏ, đầu thuôn, đầu tròn (không có cực đầu), đầu kim (không có nhân), đầu hình hạt đậu, đầu hình dạng bất thường, 2 đầu.

+ Dị dạng cổ: bao gồm tinh trùng chỉ có đầu, tinh trùng có đuôi gắn vào đầu không đối xứng, đoạn giữa (midpece) nhỏ hoặc dầy.

+ Dị dạng đuôi: bao gồm đuôi bị xoắn, đuôi bị đứt, 2 đuôi.

+ Tinh trùng còn hạt bào tương, chưa trưởng thành hoàn toàn.

+ Tinh trùng non: nhiều dạng tinh trùng non có thể xuất hiện dưới dạng hình tròn hoặc kéo dài, kích thước to hơn tinh trùng, không đuôi, nhân tròn.

Khi cần kết quả gấp, có thể dùng lam nhuộm eosin/nigrosin để đọc hình dạng. Ngoài ra có thể nhuộm bằng phương pháp Schorr.

Ngoài ra, nếu thấy hiện tượng kết dính nhiều, tinh trùng chết nhiều hay di động kém, người ta có thể làm thêm một số xét nghiệm miễn dịch để tìm kháng thể kháng tinh trùng. Một số trung tâm tiến hành thử các xét nghiệm sinh hoá tinh dịch để đánh giá chức năng các tuyến.

  1. Một số giá trị bình thường của tinh dịch đồ

– Thể tích tinh dịch: >= 2ml

– Mật độ tinh trùng: >= (20.1 ^ 6) / ml

– Di động A: >= 25%

hoặc A + B >= 50%

– Hình dạng bình thường: >= 30%

– Tỉ lệ tinh trùng sống: >= 75%

  1. Một số khái niệm chẩn đoán trên tinh dịch đồ

– Normozoospermia: tinh dịch đồ bình thường

– Oligozoospermia: tinh trùng ít (mật độ< (20.1 ^ 6) / ml)

– Asthenozospermia: tinh trùng yếu ( A < 25% và A + B < 50% )

– Teratozoospermia: tinh trùng dị dạng (hình dạng bình thường < 50%)

– Oligo-astheno-teratozoospermia (OAT): phối hợp cả 3 tình trạng trên

– Azoospermia: tinh dịch không có tinh trùng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *