UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư sinh dục nữ, hay gặp ở lứa tuổi 36 đến 50. Do dễ phát hiện sớm, nên ở các nước phát triển, tỷ lệ ung thư cổ tử cung xâm nhập đã giảm từ 36/100.000 ở thập kỷ 50 xuống 15/100.000 phụ nữ ở thập kỷ 70.
I, CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Qua nghiên cứu dịch tễ học về ung thư cổ tử cung, người ta thấy các yếu tố nguy cơ như sau:
– Có quan hệ tình dục sớm (từ 15 đến 17 tuổi).
– Có nhiều người tình hoặc chồng, hay người yêu có nhiều người tình.
– Viêm nhiễm đường sinh dục, nhất là với virus herpes nhóm II hay virus papilloma nhóm 16-18, 31-33.
– Sinh đẻ nhiều.
– Sinh hoạt vật chất thấp.
II. PHÁT HIỆN SỚM UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
Phát hiện sớm nhằm tìm ra từ các phụ nữ bình thường các trường hợp có tổn thương từ loạn sản đến ung thư trong biểu mô, giúp cho việc điều trị vừa đơn giản và đạt kết quả cao.
Vì các trường hợp loạn sản hay gặp từ lứa tuổi 26- 30 và ung thư trong biểu mô từ 31-35 tuổi, nên cần làm phiến đồ cổ tử cung từ 25 tuổi. Cần làm nhiều lần để tránh nhầm do âm tính giả. Nếu phiến đồ vẫn bình thường, cần làm lại 3 năm 1 lần cho đến 65 tuổi. Để có thể làm giảm tỷ lệ bị ung thư xâm nhập đến 75% thì tỷ lệ sàng lọc phải đạt 80% số phụ nữ trong lứa tuổi từ 25- 65 tuổi.
Các phiến đồ sàng lọc ung thư cổ tử cung được phân loại 5 bậc theo Papanicolaou, song Hội nghị Bethesda đã thống nhất lại sự nhận định về tế bào học các phiến đồ phát hiện ung thư cổ tử cung như sau:
– Về chất lượng: phiếu đó làm tốt hay xấu.
– Về mô tả:
+ Thay đổi lành tính: có viêm nhiễm, ký sinh trùng.
+ Những bất thường ở biểu mô lát hay biểu mô trụ.
Biểu mô lát: tổn thương trong biểu mô mức độ thấp (CIN I hay condyloma) hay ở mức độ cao (CIN II và CIN III).
Biểu mô trụ: bất thường hay không điển hình.
Khi phiến đồ bất thường ở mức độ nặng, cần soi cổ tử cung để làm sinh thiết (ở vùng có tổn thương nghi ngờ hoặc vùng ranh giới giữa biểu mô trụ và lát).
Nếu chỉ lộ tuyến đơn thuần có thể đốt điện áp lạnh hay laser. Nếu CIN I, theo dõi độ 1 năm không tự khỏi, xử trí như CIN II và III (khoét chóp cổ tử cung). Nếu là ung thư trong biểu mô nên cắt tử cung hoàn toàn và 2 phần phụ.
III. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ ĐÃ XÂM NHẬP
Một khi ung thư cổ tử cung đã sang giai đoạn lâm sàng, các dấu hiệu cơ năng sau làm ta nghi ngờ:
– Băng huyết do sang chấn (sau giao hợp, sau khám phụ khoa): ra máu đỏ tươi, lượng không nhiều.
– Băng huyết sau mãn kinh.
– Khí hư hôi, có lẫn máu.
Khi đặt mỏ vịt có thể thấy các dấu hiệu sau:
– Cổ tử cung sùi, cứng, chạm vào chảy máu.
Cổ tử cung loét, hoại tử, nên cứng, chạm vào chảy máu.
– Cổ tử cung to, cứng, bóp bằng 2 cành mỏ vịt sẽ chảy máu từ cổ tử cung ra.
Làm sinh thiết để xác định chẩn đoán sau 1 đợt điều trị kháng sinh, khám để xác định sự lan tràn:
+ Khám âm đạo: xác định sự lan xuống âm đạo.
+ Khám trực tràng: xác định sự lan ra nền dây chẳng rộng và trực tràng..
+ Soi bàng quang: xác định sự lan tràn vào bàng quang.
+ Chụp UIV: xem niệu quản có bị chèn ép không.
Sau đó sẽ đánh giá giai đoạn của ung thư (theo FIGO).
- Giai đoạn O: ung thư trong biểu mô.
- Giai đoạn Ia: giai đoạn tiền lâm sàng.
- Giai đoạn Ib: giai đoạn ung thư còn khu ở cổ tử cung.
- Giai đoạn IIa: lan đến 1/3 trên âm đạo, 1 phần nền dây chằng rộng.
- Giai đoạn IIb: lan đến 2/3 trên âm đạo và 2/3 nền dây chằng rộng.
- Giai đoạn III: lan đến 1/3 dưới âm đạo và toàn bộ nền dây chằng rộng.
- Giai đoạn IV: lan ra ngoài tiểu khung và niêm mạc âm đạo hay trực tràng.
IV, XỬ TRÍ
Với ung thư trong biểu mô, với người đã có con, nên cắt tử cung hoàn toàn và 2 phần phụ, nếu chưa có con thì có thể cắt cụt cổ tử cung, song phải theo dõi cẩn thận sau mổ, làm lại phiến đồ cổ tử cung cứ 3 tháng 1 lần, rồi 6 tháng 1 lần, trong vòng 5 năm.
– Với giai đoạn la nên cắt tử cung và vét hạch.
– Với giai đoạn Ib và IIa: nên cắt tử cung rộng và vét hạch (phẫu thuật Wertheim) kết hợp với tia xạ trước và sau mổ.
– Với giai đoạn IIb và III: tia xạ tại chỗ.
– Với giai đoạn IV: cắt bỏ tiểu khung hay hóa liệu pháp chống ung thư.
Kết quả sống 5 năm là:
+ 100% với ung thư trong biểu mô.
+ 80% so với giai đoạn I và IIa.
+ 55% với giai đoạn IIb.
+ 35% với giai đoạn III.
+ 5% đến 10% với giai đoạn IV.
Ung thư CTC và có thai: khi có thai, miễn dịch giảm nên u có tiến triển nhanh và tiên lượng xấu.
+ Có thai ở quý I: nên làm phẫu thuật Wertheim.
+ Có thai ở quý II: tia xạ vào CTC thai sẽ sẩy và sau đó làm Wertheim.
+ Có thai ở quý III: nếu bệnh ở giai đoạn sớm (I) và người bệnh chưa có con thì nên đợi thêm cho thai có thể sống, mổ lấy thai và cắt tử cung hoàn toàn rộng kết hợp vét hạch; nếu đã có con thì nên mổ ngay.
Theo dõi sau điều trị:
Với ung thư cổ tử cung trong biểu mô còn bảo tồn tử cung thì phải theo dõi định kỳ bằng khám lâm sàng, test lugol và tế bào học. Nếu có nghi ngờ tái phát phải soi cổ tử cung và sinh thiết ngay.
Nếu là ung thư xâm nhập phải theo dõi 3 tháng 1 lần trong năm đầu; 6 tháng 1 lần ở năm thứ 2 và 3; 1 năm 1 lần sau đó.
Mỗi lần khám phải xem thể trạng, cân nặng, tìm hạch trên đòn; khám gan, bụng, âm hộ, âm đạo, làm phiến đồ âm đạo, siêu âm gan và thận.
Với bệnh nhân còn trẻ, có thiểu năng nội tiết hay teo âm đạo có thể cho loại estrogen có tác dụng ở âm đạo (estriol) hoặc cho estrogen thay thế (nếu cần thiết), vì loại ung thư cổ tử cung không chịu ảnh hưởng của nội tiết tố nữ
