THUỐC, VẮC XIN, CÁC KĨ THUẬT CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH VÀ THAI NGHÉN
¯ ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN PHỤ NỮ MANG THAI
Dùng thuốc cho phụ nữ có thai thông thường với mục đích điều trị cho mẹ (trừ rất ít trường hợp qua mẹ điều trị cho thai nhi) nhưng không tránh khỏi ảnh hưởng đến thai nhi ở mức độ nhất định, đôi khi gây hậu quả rất nghiêm trọng nếu dùng thuốc không đúng
Do đặc điểm cấu trúc của rau thai một số thuốc có thể chuyển từ mẹ vào thai nhi ảnh hưởng đến thai nhi. Mức độ ảnh hưởng của thuốc đến sự phát triển của thai nhi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tính nhạy cảm của các cơ quan ở các giai đoạn phát triển của thai nhi. Theo Gideon Koren thì trong 2 tuần đầu của thai kì, thuốc có thể làm chết phôi hoặc phôi vẫn phát triển bình thường (quy luật “tất cả hoặc không”). Giai đoạn nhiều cơ quan nhạy cảm với thuốc nhất là từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 9 của thai kỳ. Trong giai đoạn này ảnh hưởng của thuốc trên thai nhi có thể dẫn đối những biến đổi lớn về hình thái (gây quái thai). Sau tuần thứ 9 thuốc vẫn có thể gây ảnh hưởng đến thai nhi gây khiếm khuyết về sinh lý hoặc bất thường về hình thái nhưng mức độ nhẹ hơn.
Cho đến nay ảnh hưởng của thuốc trên sự phát triển của thai nhi, đặc biệt gây biến đổi nặng về hình thái đã được các nhà nghiên cứu sản xuất thuốc cũng như các thầy thuốc rất quan tâm. Tuy nhiên ngoài một số thuốc đã biết gần như chắc chắn sẽ gây quái thai trên người như thalidomid, các hormon androgen, các chất chống chuyển hóa của acid folic…một số thuốc mới chỉ được đánh giá qua thực nghiệm trên động vật, còn nhiều thuốc chưa được nghiên cứu đầy đủ về lĩnh vực trên
Để hạn chế những tác hại của thuốc trên thai nhi người mẹ nên thận trọng khi dùng thuốc, chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết và theo chỉ định của thầy thuốc, đặc biệt cần lưu ý một số thuốc có nguy cơ cao đối với thai nhi.
Trong thời kỳ cho con bú ảnh hưởng của thuốc trên người mẹ nói chung không có sự khác biệt lớn so với bình thường, những thuốc được bài tiết vào sữa có thể ảnh hưởng đến trẻ đang bú. Đa số các thuốc sau khi hấp thụ một phần được chuyển qua sữa theo cơ chế khuếch tán thụ động hoặc vận chuyển tích cực. Mức độ thuốc vận chuyển qua sữa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một số yếu tố đóng vai trò quan trọng:
Tính chất lý hóa của thuốc: Những thuốc có độ phân ly cao, liên kết mạng với protein huyết tương (warfarin…), phân tử lượng lớn (heparin…) rất ít bài tiết qua sữa.
Sự chênh lệch giữa pH huyết tương và pH của sữa: thông thường pH huyết tương là 7,4; pH sữa là gần 6,8 nên những thuốc có bản chất là base yếu dễ dàng chuyển vào sữa. Ví dụ người mẹ uống erythromycin base sau khi hấp thụ nồng độ thuốc trong sữa có thể cao hơn trong máu từ 6 – 7 lần.
Trạng thái bệnh lý của người mẹ: người mẹ bị các bệnh về gan, thận sẽ giảm chuyển hóa của thuốc, kéo dài thời gian bán thải, tạo điều kiện cho thuốc chuyển qua sữa nhiều hơn.
Mức độ thuốc bài tiết qua sữa còn phụ thuộc vào liều lượng, thời gian uống thuốc của người mẹ.
Mặc dù phần lớn các thuốc được chuyển vào sữa với nồng độ thấp không đủ gây độc hại cho con nhưng có một số thuốc có thể ảnh hưởng đến con ngay cả khi người mẹ dùng ở liều điều trị.
Tóm lại, phần lớn các thuốc khi người mẹ dùng đều được bài tiết qua sữa nhưng với lượng nhỏ, nói chung ít gây độc hại cho con trừ một số thuốc và một số ngoại lệ. Để đảm bảo an toàn cho con người mẹ nên lựa chọn thuốc, đường dùng thích hợp ít bài tiết qua sữa, ít ảnh hưởng đến con nhất. Thời gian uống thuốc thích hợp nhất để hạn chế thuốc từ mẹ vào con là 30 – 60 phút sau khi cho con bú hoặc 3- 4 giờ trước khi cho con bú lần sau.
¯ MỘT SỐ THUỐC CẦN LƯU Ý SỬ DỤNG TRONG THAI NGHÉN
- Thuốc giảm đau hạ sốt: Acetaminophen là thuốc khá an toàn. Acid salicylic có thể làm tăng tỉ lệ tử vong sơ sinh, tăng xuất huyết, giảm cân nặng. Tuy nhiên, aspirin liều thấp có thể coi là an toàn. Thận trọng với các thuốc kháng viêm không steroid vì có thể gây tác dụng phụ;
- Thuốc kháng sinh: Nhóm Beta – lactam: penicillin, cephalosporin được xem là an toàn. Không dùng các thuốc nhóm phenicol vì gây suy tủy, giảm bạch cầu. Tránh dùng tetracyclin vì gây vàng răng ở trẻ. Không dùng nhóm aminoglycosid vì gây điếc, giảm thính lực. Cấm dùng nhóm quinolon do gây tổn thương sụn khớp. Một số kháng sinh cẩn trọng khi dùng: rifamycin (không dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ). Nitrofuran và acid nalidixic không nên dùng cuối thai kỳ. Metronidazol, trimethoprim, sulfamid không nên dùng trong giai đoạn đầu và cuối thai kỳ.
Đối với phụ nữ có thai, thuốc kháng sinh có thể xếp thành 3 nhóm:
+ Nhóm có thể dùng (chỉ định): Gồm beta – lactamin, macrolid
+ Nhóm không thể dùng (chống chỉ định) gồm có phenicol (gây suy tủy, giảm bạch cầu, “hội chứng xám ở trẻ em”), tetracycline (gây vàng răng ở trẻ em…), aminoglycosid (gây điếc…), quinolon (gây tổn thương thoái hóa khớp)
+ Nhóm thuốc dùng thận trọng: Rifamycin (không dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ), nitrofuran, acid nalidixic (không nên dùng cuối thai kỳ), metronidazol, trimethoprim, sulfamid (không nên dùng giai đoạn đầu và cuối thai kỳ)
- Thuốc điều trị tăng huyết áp: các thuốc sau đây không được sử dụng do khi vào cơ thể sẽ vượt qua nhau thai gây hại cho thai nhi như hạ đường huyết, vô niệu, suy thận và nghiêm trọng hơn là gây ra dị dạng, quái thai, thậm chí thai nhi bị tử vong: nhóm thuốc ức chế men chuyển như: captopril, enalapril, lisinopril, nhóm thuốc ức chế calci: nifedipin, amlodipin, nhóm thuốc chẹn beta (propanolol, atenolol), nhóm thuốc lợi tiểu (furosemid, hydroclorothiazid), nhóm thuốc đối kháng thụ thể angiotensin (losartan, ibersartan). Cần hết sức lưu ý khi sử dụng
Các thuốc có thể sử dụng được: Methyldopa, labetalol, hydralazin
- Thuốc chống nôn: nên sử dụng vitamin B6 kết hợp với magie và gừng. Còn nhóm thuốc kháng histamin thì nên thận trọng; Thuốc điều trị tiêu chảy: các thuốc kaolin, pectin không độc hại vì không hấp thụ qua màng ruột. Tránh dùng atropin / diphenoxydat
- Thuốc trị đau dạ dày: các thuốc trung hòa dịch dạ dày như hydroxyt nhôm, hydroxyt magie và kháng tiết như cimetidin, ranitidin không gây dị dạng thai nhi nên dùng được. Tránh dùng nizatidin vì có thể làm hỏng thai ở động vật
- Các thuốc chống nấm: loại imidazol như clotrimazol, miconazol không độc hại; các thuốc trị hen như steroid dạng hít được xem là an toàn
- Thuốc trị cường giáp: cần chuyển sang dùng propylthiouracil
- Các thuốc trị động kinh: làm tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh. Các thuốc ngừa thai lỡ dùng trong những tháng đầu thai kỳ không gây dị tật; các thuốc trị tầm cảm (prozac…) không gây dị dạng
- Thuốc bổ sung vitamin và khoáng chất: có thể gây hại cho thai nhi nếu dùng quá liều, như vitamin A dùng quá liều trong thời gian dài sẽ gây khuyết tật cho thai nhi
¯ CÁC LOẠI VẮC XIN CẦN TIÊM PHÒNG TRƯỚC KHI MANG THAI
Cúm: cúm là căn bệnh rất dễ gây mắc phải và hậu quả nó để lại khá nặng nề. Ở trong ba tháng đầu của thai kỳ, nếu thai phụ bị cúm thì nguy cơ trẻ sinh ra bị mắc các dị tật như sứt môi, hở hàm ếch, sinh non, nhẹ cân rất cao. Tỷ lệ mắc bệnh cúm sẽ giảm đi đáng kể nếu thai phụ em tiêm phòng cúm trong vòng một năm kể từ khi tiêm
Viêm gan B: Căn bệnh này chiếm tỷ lệ lây từ mẹ sang con trong quá trình mang thai cao nhất hiện nay. Mẹ tiêm phòng đầy đủ sẽ ngăn ngừa nguy cơ nhiễm bệnh và truyền sang thai nhi
Thủy đậu: phụ nữ chưa từng bị thủy đậu hoặc chưa từng tiêm phòng thủy đậu nên ưu tiên tiêm vắc xin thủy đậu trước. Thủy đậu có thể truyền bệnh cho con và gây cho bé có các dị tật bẩm sinh về hình thể, bị liệt chân tay
Sởi, quai bị, rubella: Ba bệnh lý truyền nhiễm này đều dễ dàng lây qua đường hô hấp. Nếu trong thai kỳ thai phụ mắc phải một trong ba bệnh lý này thì nguy cơ trẻ sinh ra bị dị tật: tim bẩm sinh, điếc do thần kinh cảm giác, mất thị giác, trí tuệ chậm phát triển và suy dinh dưỡng rất cao
Bạch cầu, ho gà, uốn ván: Bạch hầu, ho gà có thể lây trực tiếp qua đường hô hấp. Uốn ván có thể xảy ra nếu chủ quan với vết thương hở bởi loại vi khuẩn này có khả năng sinh tồn rất tốt trong môi trường tự nhiên. Hiện tại có vắc xin tích hợp phòng ba bệnh lý kể trên chỉ với một lần tiêm duy nhất
¯ THỜI GIAN TIÊM PHÒNG THÍCH HỢP NHẤT
Bệnh cúm: vắc xin cúm có độ nhạy cao, mọi đối tượng đều có thể tiêm nên có thể tiêm ở mọi thời điểm bao gồm cả trước và trong khi mang thai. Tuy nhiên tiêm vắc xin cúm khi mang thai tốt nhất nên thực hiện sớm trước khi vào mùa cúm (từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau) nhưng hoàn toàn có thể tiêm ngừa cúm bất cứ lúc nào trong thai kỳ .
Sởi, quai bị, rubella: mũi tiêm phòng 3 trong 1 này cần được tiêm trong 3 – 6 tháng trước khi có thai và muộn nhất là 1 – 3 tháng
Viêm gan B: cũng giống như vắc xin cúm, vắc xin phòng bệnh viêm gan B có thể tiêm vào trước hoặc trong khi mang bầu. Nhưng tốt nhất vẫn nên tiêm trước khi mang bầu để đảm bảo sức khỏe tốt nhất trong thời gian mang thai 3 tháng.
Bạch hầu, ho gà, uốn ván: mũi phòng bệnh này chỉ cần tiêm một liều duy nhất đảm bảo phòng bệnh hiệu quả. Có thể tiêm trước khi mang thai hoặc tốt nhất trong thời gian mang thai từ 27 đến 36 tuần
Thủy đậu: nên tiêm phòng thủy đậu trước khi mang thai ít nhất một tháng
HPV: vắc xin này cần được tiêm trước khi mang thai 3 tháng và không chỉ định trong thời kỳ mang thai
• Lịch tiêm phòng vắc xin trước khi mang thai:
Trước khi mang thai:
- Rubella : muộn nhất 3 tháng trước khi mang thai
- Viêm gan B: có thể tiêm trước hoặc trong khi mang thai
- Thủy đậu: muộn nhất 2 tháng trước khi mang thai
- Cúm: phụ nữ có thể tiêm phòng cúm vào mọi thời điểm trước khi mang thai
Trong khi mang thai:
- Uốn ván: mũi đầu từ tuần 22. Mũi thứ 2 nhắc lại sau mũi đầu 1 tháng
- Cúm: nếu 3 tháng giữ và 3 tháng cuối của thai kỳ trùng với mùa cúm (Từ tháng 10 đến hết tháng 2 năm sau)
Sau khi tiêm vắc xin, cơ thể có thể xảy ra một số phản ứng phụ không mong muốn như sốt nhẹ, sưng đau tại vị trí tiêm.
