CHĂM SÓC TRẺ BỊ BỆNH CÒI XƯƠNG
- NGUYÊN NHÂN
1.1. Vai trò của vitamin D
– Tham gia vào quá trình hấp thu calci và phospho từ ruột vào máu.
– Đưa calci, phospho từ máu vào lắng đọng ở xương.
– Dưới tác dụng của hormon cận giáp, vitamin D làm tăng tái hấp thu calci và phospho ở ống lượn xa của thận.
Như vậy, hàm lượng calci và phospho trong cơ thể đủ hay thiếu đều phụ thuộc vào vitamin D. Do đó thiếu vitamin D sẽ dẫn đến bệnh lý loãng xương, hay còn gọi là còi xương
1.2. Nguồn cung cấp vitamin D
– Từ nguồn ăn uống: Thức ăn thường có ít vitamin D. Ví dụ: vitamin D trong sữa mẹ là 50 đv/lít, trong sữa bò là 10 đv/lít. Chỉ có một số thức ăn giàu vitamin D như dầu gan cá, trứng.
– Từ nguồn nội sinh: là nguồn cung cấp vitamin D chủ yếu. Trên da trẻ em có chất tiến vitamin D là 7- Dehydrocholesteron. Dưới ánh sáng tử ngoại của mặt trời, tiền vitamin D sẽ chuyển thành vitamin D:
7- Dehydrocholesteron Ánh sáng mặt trời + (Tia tử ngoại)———--> Vitamin D
(Tiền vitamin D)
1.3. Nguyên nhân thiếu vitamin D
1.3.1. Thiếu ánh nắng mặt trời
– Nhà ở chật hẹp, tối tăm.
– Không cho trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
– Mặc quá nhiều quần áo.
– Thời tiết sương mù (mùa đông xuân…).
1.3.2. Ăn uống
– Trẻ em thiếu sữa mẹ: Sữa mẹ có tỷ lệ calci/phospho hợp lý, dễ hấp thu và tỷ lệ vitamin D cao hơn sữa bò.
– Ăn nhiều bột cũng cản trở quá trình hấp thu calci, phospho.
1.3.3. Yếu tố nguy cơ
– Tuổi: bệnh còi xương hay xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, là tuổi mà hệ xương phát triển mạnh nhất.
– Trẻ đẻ non: có nhu cầu phát triển cao hơn, trong khi đó sự tích lũy muối khoáng và vitamin D lại kém hơn.
– Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nhất là ở hệ tiêu hoá và hô hấp.
– Màu da: trẻ da màu hay bị còi xương hơn vì có sự cản trở quá trình tổng hợp vitamin D tại da.
- TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
2.1. Dấu hiệu thần kinh
– Các dấu hiệu xuất hiện sớm:
+ Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình.
+ Ra mồ hôi trộm cả khi trời lạnh.
– Rụng tóc ở gáy – gọi là dấu hiệu “chiếu liếm” thường xảy ra muộn hơn do trẻ ngứa ngáy, kích thích, nằm hay lắc đầu.
2.2. Dấu hiệu ở xương
2.2.1. Mềm xương là dấu hiệu sớm
– Xương sọ: mềm, ấn vào có thể gây lõm như ấn vào quả bóng nhựa; thóp rộng, bờ thóp mềm, chậm liền thóp.
– Răng: thường mọc chậm và mọc lộn xộn.
Mềm xương là biểu hiện của tình trạng bệnh đang tiến triển mạnh, cấp tính. Điệu trị đúng trong giai đoạn này sẽ cho kết quả tốt và không để lại những di chứng nặng nề cho trẻ.
2.2.2. Tăng sinh và biến dạng xương
– Xương sọ: Bướu trán, bướu đỉnh tạo cho đầu có hình “lập phương”.
– Xương hàm: Xương hàm dưới thường chậm phát triển, hàm trên chìa ra.
– Xương lồng ngực:
+ Khớp sụn sườn ở phía trước ngực tăng sinh phì đại tạo nên “chuỗi hạt sườn”.
+ Lồng ngực có thể bị biến dạng dô lên ở phía trước như “ngực gà” hoặc bị lõm vào ở vùng ngang vú tạo nên ngực “hình chuông”.
– Xương tay: đầu dưới xương trụ, xương quay tăng sinh phì đại tạo nên “vòng cổ tay”.
– Xương chân:
+ Đầu dưới xương chày tăng sinh phì đại tạo thành “vòng cổ chân”.
+ Do xương loãng, mềm và lại phải tải gần như toàn bộ trọng lượng cơ thể cho nên hai chân của trẻ còi xương sẽ bị cong như hình chữ “O”; cơ yếu nên khi đứng chân thường dựa đầu gối vào nhau tạo nên hình chữ “X”.
– Xương sống: Cong, gù vẹo cũng do cơ chế trên.
Tăng sinh và biến dạng xương là hậu quả của sự mềm xương và là những biểu hiện muộn của bệnh còi xương. Những biến dạng trên đây thường để lại những di chứng vĩnh viễn, không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, mà đối với trẻ gái còn gây nên những khó khăn đáng kể trong sinh đẻ do sự biến dạng của khung chậu.
2.3. Hệ cơ
Trương lực cơ giảm, gây nên hiện tượng bụng ông, trẻ chậm biết ngồi, đứng, đi. Do vậy dễ bị gù vẹo cột sống, chân hình chữ ‘X’.
2.4. Hệ tạo máu
Trẻ còi xương thường có thiếu máu nhược sắc, da xanh, niêm mạc nhợt, hồng cầu to, gan lách thường to.
- KẾ HOẠCH CHĂM SÓC, ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG BỆNH CÒI XƯƠNG
3.1. Nhận định
Thăm khám toàn diện để xác định các dấu hiệu còi xương: các dấu hiệu thần kinh, thóp có rộng không? bờ thóp có mềm không? có biểu hiện hạ calci huyết không? (có co giật không?) các xương có biến dạng không? Sự biến dạng của xương và giảm trương lực cơ đã ảnh hưởng như thế nào đến các chức năng khác như hô hấp, vận động? Khám xem trẻ có thiếu máu không? Trẻ bụ bẫm hay gầy còm? Khai thác nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ…
3.2. Chẩn đoán và chăm sóc
Các chẩn đoán chăm sóc có thể gặp:
– Ra mồ hôi trộm nhiều, ngủ hay giật mình do rối loạn thần kinh thực vật liên quan đến thiếu vitamin D.
4.2. Đối với con
– Ăn uống: Tốt nhất là cho trẻ bú mẹ. Khi ăn sam cần đảm bảo đầy đủ các chất đạm, mỡ, đường, vitamin và muối khoáng. Khi cai sữa cần đảm bảo mỗi ngày từ 200 – 400 ml sữa cho trẻ.
– Tận dụng các yếu tố thiên nhiên: Cần cho trẻ chơi ở ngoài trời với thời gian thích hợp để trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhất là vào buổi sáng.
– Phòng bệnh đặc hiệu bằng vitamin D:
Dùng vitamin D mỗi ngày 1000 – 2000 đv liên tục từ 3 đến 6 tháng (tổng liều là 200 000 đv). Có thể dùng 1 liều duy nhất 200 000 đv vào mùa đông.
Dùng vitamin D là biện pháp chắc chắn nhưng phải thận trọng. Đối với trẻ có nguy cơ còi xương, nhưng đẻ ra có thóp trước nhỏ hoặc liền trước 8 tháng tuổi thì không được dùng vitamin D. Đối với những đứa trẻ này, nếu cho dùng vitamin D, thóp sẽ liền quá sớm làm ảnh hưởng đến sự phát triển của não.
