BỆNH Ở ÂM HỘ VÀ ÂM ĐẠO
I. BỆNH Ở ÂM HỘ
Khi khám các tổn thương ở âm hộ cần hỏi về tiền sử:
– Gia đình có bị đái tháo đường, các bệnh ngoài da, bệnh vẩy nến.
– Có bị đái són, ỉa chảy.
– Quần lót quá cứng, xà phòng và mỹ phẩm gây dị ứng.
– Có tiền sử ung thư sinh dục có thể di căn đến đó.
– Làm các xét nghiệm các dịch tiết tại chỗ để tìm sợi nấm, trùng roi.
– Ép phiến kính vào tổn thương để làm tế bào học trong herpes hay xoắn trùng giang mai.
Sinh thiết tổn thương nếu cần sau khi gây tê.
- Các tổn thương có màu đỏ.
Do có xung huyết tại chỗ do giảm mạch, lớp da mỏng đi, hay có tuần hoàn tân tạo. Các tổn thương này thường có kèm cảm giác rát, đau hoặc rỉ máu.
1.1. Viêm âm hộ do nấm
Thường xuất hiện sau điều trị kháng sinh, sát trùng tại chỗ hoặc trên bệnh nhân đái tháo đường. Âm hộ đó, có chất tiết màu trắng ở trên mặt, có thể lan đến tầng sinh môn, nếp bẹn hay mặt trong đùi. Có thể kèm đái rắt, đái buốt.
Cần tìm nấm ở đường tiêu hóa, bẹn, tìm cả ở chồng.
Rửa bằng xà phòng kiểm, bôi mỡ hoặc thuốc bột chống nấm. Cần điều trị cho cả chồng. Uống thuốc để diệt nấm đường ruột.
1.2. Viêm âm hộ do ký sinh trùng
Thường do trùng roi: bệnh nhân rát bỏng, khí hư hôi. Thường kèm viêm âm đạo. Soi tươi thấy trùng roi.
1.3. Viêm âm hộ do vi trùng
– Do lậu: 20% là cấp tính, âm hộ đỏ và phù nề, khí hư nhiều như mủ. Thường kèm viêm niệu đạo, tuyến Skène. Tìm lậu cầu và điều trị đặc hiệu bằng spectinomycin (trobicin).
– Do hemophilus vaginalis: gây viêm nhiễm âm hộ rát ngứa, khí hư có mùi tỏi. Điều trị bằng ampicilin.
– Do tiếp xúc: do bị kích thích hay dị ứng với các chất tẩy rửa, thuốc rửa, các dụng cụ tránh thai (bao cao su, màng ngăn âm đạo), thường xuất hiện sau dùng đồ lót nào đó, sau giao hợp, hay thuốc bôi tại chỗ.
Âm hộ đỏ, phù nề, không loét, không có hạch, không có nấm, viêm chân lông. Cân hỏi bệnh kỹ lưỡng về điều kiện và thời gian xuất hiện.
Sau rửa sạch, sấy khô vùng âm hộ, bôi dung dịch nitrat bạc 1/200, mỡ corticoid; dùng đồ lót bằng bóng, rộng, thoáng.
1.4. Viêm da tiết dịch
Tổn thương nổi lên ở vùng có các tuyến bã hoạt động mạnh. Có màu đỏ bao phủ bởi một lớp vẩy mỏng, rất ngứa và dễ bị bội nhiễm, thường không ở môi nhỏ; dễ có ở cả sau tai, da vùng ngực, vai.
Không rõ nguyên nhân, hay gặp ở phụ nữ hay lo lắng.
Điều trị tại chỗ bằng dung dịch acetat nhôm 5% hay nitrat bạc 1/200. Dùng thuốc mỡ corticoid song không có kháng sinh. Dùng thuốc an thần. Mặc đồ lót bằng bông.
1.5. Bệnh vẩy nến
Có thể có ở âm hộ, điển hình bởi các vẩy mỏng, bong ra ở xung quanh. Kèm tổn thương ở cơ thể.
1.6. Viêm nang lông
Viêm nang lông thường gặp ở vùng nhiều lông, chân lông có mụn mủ nhỏ, ngứa: rửa sạch, lau khô, bôi thuốc mỡ có kháng sinh (neomycin, bacitracin), có thể dùng kháng sinh đường uống kèm theo.
1.7. Bệnh Paget
Gồm các mảng sừng hóa bao quanh các vùng đỏ. Tổn thương có thể khu trú trong vùng sừng hóa, song có thể lan xa; thường kèm theo ngứa, bỏng, bứt rứt. Nên tìm tổn thương ở vai. Đó là tổn thương ác tính của các tuyến đầu hủy (apocrin).
Cần phân biệt với: nấm, chàm (bằng sinh thiết nếu cần). Nên mở cắt rộng vết tổn thương.
1.8. Ung thư âm hộ
Ung thư âm hộ trong biểu mô có tổn thương đỏ, phẳng, không sờ thấy u, trên phụ nữ già. Cần xác định bằng tế bào học hay sinh thiết.
Ung thư xâm lấn, tổn thương đỏ, lồi, cứng thường ở môi lớn. Cũng cần có tế bào học hay sinh thiết để xác định.
- Các tổn thương có màu trắng
Thường do phối hợp 3 yếu tố: sừng hóa, mất sắc tố và không có tuần hoàn. Những tổn thương trắng thường là tiền ung thư, nếu không có những lý do khác, cần phải sinh thiết.
2.1. Loạn dưỡng (teo) âm hộ
– Bệnh lichen xơ teo:
Thường gặp ở người mãn kinh hay đã mãn kinh, da ở vùng âm hộ nhợt trắng, mỏng, môi nhỏ teo và có khi mất hẳn. Lỗ âm hộ teo nhỏ, vùng trắng lan ra tầng sinh môn. Vùng đó rất ngứa và có thể lan ra cả thân và các chi.
– Teo và sừng hóa:
Tổn thương rất ngứa, song không bị mỏng đi, trái lại trở nên dày cộp.
– Tổn thương phối hợp:
Như của cả 2 loại trên gộp lại.
Điều trị cho các loại tổn thương đó bằng:
+ An thần, chống ngứa.
+ Ngâm nước pha thuốc tím 0,25g/lít nước, đắp dung dịch fluorescein 1%.
Với hình thái đầu, bôi mỡ corticoid loại 1 (dermoval 0,5%), hai lần 1 ngày, sau đó là mỡ cortison loại 2 (diproson) với hình thái sừng hóa và phối hợp. Đầu tiên dùng mỡ corticoid, khi sừng hóa giảm dùng mỡ testosteron (andractin), dùng cách ngày xen lẫn corticoid. Nếu không có kết quả, nên cắt âm hộ.
2.2. Các tổn thương bạch biến
Là do các melanocyte ở thượng bì bị phá hủy dần, do cơ chế tự tiêu hủy đi đôi với tăng sắc tố ở vùng xung quanh.
Tổn thương có màu trắng, bờ rõ, không ngứa, da mềm ở phụ nữ trẻ.
Vùng trắng lan rộng song không ngứa, lông vẫn còn màu. Không có phương tiện điều trị hữu hiệu.
– Bệnh hăm kẽ:
Cũng có tổn thương màu trắng song có những chỗ bong da, nhất là các nếp gấp, thường ở người béo, vệ sinh không thường xuyên.
Thường chỉ cần rửa sạch, bôi các dung dịch sát trùng, hoặc ngâm với các dung dịch đó (solubacter septivon, betadin) rồi rửa sạch, sấy khô, không rắc bột talc.
2.3. Các tổn thương màu đen
Các tổn thương liên quan đến sự tăng sinh hắc tố ở thượng bì hay sự thâm nhập màu vào hạ bì. Các loại tổn thương này gồm có:
– Nốt ruồi: thường không có triệu chứng gì, nếu ở vùng thường xuyên bị kích thích hay có những thay đổi thì nên cắt bỏ.
– Nốt ruồi son: thường không có triệu chứng gì, có thể chỉ ở một nơi hay nhiều nơi trên cơ thể.
– Ung thư biểu mô: 20% có biểu hiện là tổn thương sẫm màu, ngứa, tổn thương phối hợp, có bề mặt sù sì.
– Ung thư hắc tố: chiếm 4-5% các ung thư âm hộ, tổn thương sẫm màu, sùi lên trên mặt như vẩy.
2.4. Các vết loét
– Herpes (do virus herpes):
Ít gặp, thường ở người có thai hay giảm miễn dịch.
+ Giai đoạn đầu sau giao hợp 2 – 7 ngày xuất hiện viêm âm hộ cấp tính, đái buốt, đái khó, sốt 38°C. Khám thấy âm hộ phù nề, đỏ, có những mụn nước (đôi khi vỡ thành vết loét) có hạch bẹn.
+ Có thể tái phát nhiều lần trong năm.
Chẩn đoán bằng tế bào học (tế bào khổng lồ, nhiều nhân to, tế bào Unna) hay nuôi cấy virus làm miễn dịch huỳnh quang để định loại.
Điều trị bằng:
- Thuốc giảm đau.
- Bôi thuốc mỡ (cuterpex, zovirax, vira MP) 4 lần/1 ngày, trong 1 tuần.
- Uống zovirax: 5 viên/ngày, trong 10 ngày.
Ở người mắc bênh khi có thai, nhất là trước khi sinh, nên mổ lấy thai để tránh lây cho trẻ sơ sinh.
-Giang mai:
Vết loét giang mai tiên phát thường đơn độc, cứng, không đau, kết hợp với hạch bẹn, tự khỏi sau 6 tuần.
Vết loét giang mai giai đoạn hai, xuất hiện 6-8 tuần sau vết loét tiên phát, mềm, không điển hình.
Chẩn đoán bằng huyết thanh ở giai đoạn 2 và tìm xoắn trùng trực tiếp ở giai đoạn 1.
– Ung thư xâm lấn:
1/3 các ung thư âm hộ dưới dạng loét ở môi lớn, chạm vào chảy máu, nên cứng, có hạch bẹn.
Chẩn đoán bằng sinh thiết.
2.5. Các khối u âm hộ
– Sùi mào gà (condyloma):
Là một bệnh do virus loại papilloma nhóm 6 hay 12 gây nên. Có thể lây qua đường tình dục song không chắc chắn, ủ bệnh có thể đến 3 tháng.
Hình thái thường thấy là 1 khối sùi ở da, màu hồng nhạt, song có khi ở niêm mạc, quanh lỗ đái, vùng tiền đình, bên trong các môi hay các mảng sừng hóa sẫm màu như mụn cóc.
Cần sinh thiết để xác định mức độ loạn sản tế bào và tìm các bệnh lây qua đường tình dục, có thể là do lậu, giang mai, trùng roi, herpes. Khoảng 30% là condyloma thường, 20% là CIN 1 và 2.
Điều trị bằng podophyllin pha trong vaselin sau 3 giờ rửa đi, một tuần sau bôi lại, cho đến khi mất hoặc condylin (podophylotoxin) dung dịch 0,5%, bôi 2 lần/1 ngày, trong 3 ngày liền trong tuần, trong 2 đến 3 tuần. Không được dùng khi có thai.
Hoặc dùng 5 fluro-uracyl 10g pha vào 10g vaselin (efudix), bôi tại chỗ, hôm sau rửa sạch. Có thể đốt lạnh nhiệt hoặc laser. Điều trị cho cả chồng nếu có bị. Nếu tái phát phải soi hậu môn để tìm tổn thương ở đó.
– Bệnh sùi kiểu Bowen (nghịch sản âm hộ):
Do virus papilloma nhóm 6, 11, 16 và có thể cả nhóm 2, thường gặp ở tuổi 30, biểu hiện bởi khối sần đỏ có ranh giới rõ, hoặc tổn thương sừng hóa hay nốt sùi hạt cơm, có màu sám. Tổn thương ở âm hộ (da, niêm mạc) hoặc ở tầng sinh môn, hay bị ngứa, hay dấm dứt khó chịu. Thường phối hợp khối sùi mào gà ở âm hộ (hay nghịch sản).
Sẽ khỏi trong 3 tuần hay vài tháng, hoặc tái phát. Khoảng 10% sẽ gây ung thư trong biểu mô ở âm hộ và nghịch sản cổ tử cung trong 40% các trường hợp.
Xác định mô học bằng giải phẫu bệnh lý, có quá sản tế bào và tế bào koilocyte.
Điều trị bằng cắt tổn thương hoặc đốt laser.
– Bệnh Bowen âm hộ (ung thư biểu mô): gặp vào giai đoạn mãn kinh, ngứa, có vùng sừng hóa ở môi nhỏ hay giữa 2 môi (gần âm vật). Sau đó khối có màu đỏ, cứng, thâm nhiễm vào sâu hay thành khối cứng. Có thể có hạch bẹn. Điều trị bằng cắt tổn thương hay đốt laser. Nếu tổn thương rộng nên cắt âm hộ.
– Nang tuyến bã:
Thường ở môi lớn, chứa dịch đặc màu vàng. Chọc dò bằng kim to sẽ thấy rõ.
– Nang nhầy:
Thường ở tiền đình, đường kính độ 1 cm, mật độ căng.
– Lạc nội mạc tử cung:
Màu tím, to lên khi có kinh, đau khi căng.
– Nang Bartholin:
Thường gặp sau khi tắc ống tiết. Nang thường có đường kính 4, 5 cm, không đau. Nang nhiễm trùng thì đỏ, nóng, đau. Với nang có thể cắt bỏ, nếu nhiễm trùng thành áp xe phải chích rạch và dẫn lưu, chỉ cắt bỏ nang khi đã hết viêm.
– Ung thư thượng bì:
Xuất hiện muộn, sau 50 tuổi, 95% trên tổn thương xơ teo – sừng hóa. Có kích thước không cố định, chạm vào chảy máu, có hạch bẹn.
Cắt âm hộ, vét hạch và tia xạ vào bẹn là cần thiết. Tiên lượng xấu. Tử vong khi mổ là 10%, sống sót sau 5 năm là 42%.
2.6. Ngứa âm hộ
Ngứa âm hộ kèm cảm giác như bỏng, dấm dứt. Khi khám cần phải hỏi:
– Thời gian bắt đầu, nếu mới là do viêm, nếu lâu là do loạn dưỡng.
– Có yếu tố khởi đầu: kháng sinh, corticoid, chất giảm miễn dịch.
– Cường độ: nhiều hay ít, theo chu kỳ kinh, làm mất ngủ.
– Các triệu chứng cơ năng kèm theo như đau, đái buốt, rát, khí hư, ra máu.
– Tiền sử về phụ khoa, da liễu hay bệnh toàn thân. Khám lâm sàng có thể thấy:
– Do tiếp xúc:
+ Không do dị ứng: xà phòng, thuốc bôi hoặc quần lót.
+ Do dị ứng: kem, thuốc mỡ, thuốc đặt âm đạo, bôi, nước hoa, thuốc nhuộm, quần áo lót, giấy lót vệ sinh, thuốc tránh thai.
– Do viêm nhiễm:
+ Nấm âm hộ, trùng roi, giun kim.
+ Herpes, mycoplasma, chlamydia.
– Do bệnh ngoài da:
+ Lichen xơ teo.
+ Sừng hóa, vẩy nến.
+ Bệnh Bowen, Paget.
– Không rõ nguyên nhân:
+ Đái tháo đường dễ làm viêm nấm âm hộ thành mạn tính.
+ Yếu tố toàn thân.
+ Không tìm ra nguyên nhân.
Nếu có nguyên nhân thì điều trị theo nguyên nhân; nếu không thì cần xử trí tại chỗ: loại trừ các yếu tố nghi ngờ, làm vệ sinh với dung dịch bicarbonat Na, bôi thuốc chống ngứa (eurax) và dùng thuốc an thần.
Có khi phải kết hợp với các thầy thuốc chuyên khoa khác để xử trí (da liễu, tâm thần).
II. BỆNH Ở ÂM ĐẠO
- Nang âm đạo
Do phát triển của di tích bào thai. Người phụ nữ tự phát hiện qua làm vệ sinh hoặc đau khi giao hợp. Khám thấy khối phồng căng, di động, nắn không đau. Chọc hút ra dịch nhây. Nếu tái phát phải cắt bỏ.
- Lạc biểu mô tuyến (adenose).
Thường gặp ở phụ nữ trước đó mẹ có dùng diethylstilboestrol để giữ thai trong thời kỳ đầu của thai nghén.
Người bệnh ra nhiều chất nhầy, khám thấy có vùng đỏ như lộ tuyến cổ tử cung. Soi thấy điển hình của biểu mô tuyến buồng cổ tử cung. Thường tự khỏi sau 25 tuổi, song nếu chất nhầy nhiều có thể đặt thuốc loại viên trứng chứa 25 mg progesteron.
Thường kết hợp có dị dạng ở tử cung (kém phát triển, tử cung hình T, dễ gây vô sinh, sẩy thai, đẻ non). Tỷ lệ bị ung thư âm đạo là 1/100.
- Ung thư biểu mô âm đạo
Loại ung thư biểu mô ít gặp, thường ở phụ nữ trên 60 tuổi, có ra máu và khí hư như mủ.
Khám thấy có vùng loét hay sùi, chạm vào chảy máu, có bội nhiễm. Chẩn đoán bằng sinh thiết.
Cắt âm đạo và tử cung nếu thể trạng cho phép hay tia xạ đơn thuần. Tiên lượng xấu, khoảng 10 đến 30% sống được 5 năm sau mổ.
