Tỉ lệ vô sinh chiếm từ 8 đến 10% các cặp vợ chồng
Hỗ trợ sinh sản là các phương pháp giúp đỡ và điều trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn / vô sinh.
Việc điều trị vô sinh là một nhu cầu cấp thiết cho các bệnh nhân hiếm muộn để bảo đảm hạnh phúc gia đình, nhất là phụ nữ. Nguyên nhân do chồng chiếm 32,5%, do vợ 55,3%, cả 2 vợ chồng 8,2%, chưa rõ nguyên nhân 8%.
Hỗ trợ sinh sản đã có nhiều tiến bộ lớn trên thế giới trong những năm qua. Ở Việt Nam việc đưa các tiến bộ của y học thế giới vào điều trị vô sinh đã đạt được những tiến bộ đáng kể với sự ra đời của 3 bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ở Việt Nam năm 1997.
Nguyên tắc chung của các phương pháp hỗ trợ sinh sản là hỗ trợ quá trình có thai tự nhiên bằng cách:
– Chuẩn bị trứng và tinh trùng.
– Tạo điều kiện để tinh trùng và trứng gặp nhau tạo thành phôi.
– Tạo điều kiện để phôi vào làm tổ ở niệm mạc buồng tử cung.
Từ đó thầy thuốc chọn lựa phương pháp hỗ trợ sinh sản thích hợp cho từng cặp vợ chồng hiếm muộn / vô sinh.
- NHẮC LẠI VỀ SỰ THỤ THAI BÌNH THƯỜNG
Điều kiện để có thụ thai bình thường
– Chồng: tinh trùng bình thường về số lượng, hình thể, độ di động.
– Vợ: cổ tử cung bình thường. Vòi trứng bình thường (loa vòi bắt được noãn – tinh trùng qua được vòi trứng để gặp noãn). Noãn phát triển và trưởng thành được nhờ nội tiết FSH và LH (do buồng trứng và tuyến yên tiết ra) và có rụng trứng vào ngày thứ 14. Niêm mạc buồng tử cung đủ điều kiện để tiếp nhận phôi làm tổ
- CÁC PHƯƠNG PHÁP HỖ TRỢ SINH SẢN
Nam
– Thụ tinh nhân tạo
– Lọc rửa tinh trùng (Percoll – Swim up)
– Bơm tinh trùng vào buổng tử cung (IUI)
– Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
– Bơm tinh trùng vào trứng (ICSI)
Nữ
– Vòi trứng: nội soi phẫu thuật (gỡ dính, tái tạo loa vòi)
– Trứng: kích thích rụng trứng
– Bơm tinh trùng vào ổ bụng (DIPI)
– Chuyển phôi vào vòi trứng (GIFT)
– Chuyển trứng trực tiếp (DOT)
– Bơm trứng và tinh trùng vào ổ bụng (POST)
– Chuyển phôi xuyên tử cung vào vòi trứng (TUFT)
– Chuyển phôi qua phẫu thuật (SET)
– Nuôi cấy trong âm đạo (IVC)
– Chuyển trứng vào vòi trứng và bơm tinh trùng thụ tinh sau (FREDI).
– Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)
– Coculture
Sau đây sẽ phân tích một số phương pháp thường dùng:
- Kích thích rụng trứng
Các rối loạn phóng noãn chiếm 23,8% bệnh nhân hiếm muộn.
Việc kích thích phóng noãn qua siêu âm đầu dò âm đạo sẽ giúp cho việc chọn thời điểm để bơm tinh trùng lọc rửa vào buồng tử cung.
Các bước thực hiện kỹ thuật gây rụng trứng
- Dùng thuốc để sản xuất một trứng trưởng thành (clomifen citrat hoặc gonadotrophin)
Kích thích sự phát triển của 1 hay nhiều nang noãn.
- Theo dõi sự phát triển của nang noãn
– Qua siêu âm đầu dò âm đạo
– Đo nồng độ E2 (estradiol) trong máu.
- Tiêm hCG (như Pregnyl) giúp cho nang noãn chín rụng
Nang noãn kích thước 18-20 mm
Nồng độ E2 300UI/nang trưởng thành
- Giao hợp hoặc bơm tinh trùng vào buồng tử cung 35-48 giờ sau khi tiêm HCG
- Xét nghiệm phát hiện thai và theo dõi thai (7 ngày sau khi rụng trứng)
Chú ý đề phòng theo dõi hội chứng quá kích buồng trứng
- Lọc rửa tinh trùng và bơm tinh trùng đã lọc rửa vào buồng tử cung (Intra Utenire Insemination-IUI)
1.1. Chỉ định
– Hiếm muộn không rõ nguyên nhân
– Có kháng thể kháng tinh trùng
– Lạc nội mạc tử cung nhẹ
– Chất nhầy cổ tử cung không thuận tiện cho tinh trùng di chuyển
1.2. Các bước tiến hành
(a) Dùng thuốc kích thích 2-3 noãn trưởng thành (clomifen citrat – HMG)
(b) Theo dõi sự phát triển nang noãn (siêu âm đầu dò – thử E2)
(c) Lấy tinh dịch buổi sáng để chuẩn bị bơm tinh trùng vào buồng tử cung
– Chuẩn bị tinh trùng bằng phương pháp Percoll hoặc Swim up
– Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (0,3ml) bơm 1 lần (sau 36 giờ), 2 lần (sau 18 giờ và 42 giờ…)
(d) Thử thai và theo dõi
Tỉ lệ thụ thai 52-70% khi tinh dịch đồ bình thường và nguyên nhân vô sinh chỉ do chất nhầy cổ tử cung. Có thể làm 3-6 lần IUI trước khi ngừng vì không kết quả
Qua 751 chu kỳ (322 cặp) sử dụng HMG + IUI, tỉ lệ có thai cao hơn
các phương pháp khác. Kết quả tốt nhất trong vô sinh không rõ nguyên nhân (32,6%), do chất nhầy cổ tử cung (26,3%) và kết luận nếu ở bệnh nhân không có tổn thương vòi trứng: tỉ lệ có thai ở chu kỳ sử dụng HMG/IUI gần giống với thụ tinh ống nghiệm (IVF) hay chuyển phôi vào vòi trứng (GIFT)
- Chuyển giao tử vào vòi trứng (Gamete intra fallopian transfert – GIFT)
Trứng sau khi được chọc hút sẽ được chuyển trở lại ngay vòi trứng với một lượng nhỏ tinh trùng đã được lọc rửa.
Được thực hiện với kỹ thuật nội soi ổ bụng và tinh trùng sẽ thụ tinh ở môi trường tự nhiên tại vòi trứng.
Áp dụng ở bệnh nhân có 2 vòi trứng bình thường.
Áp dụng cho các trường hợp hiếm muộn không rõ nguyên nhân – lạc nội tử cung nhẹ. Tỉ lệ thành công có thể lên tới 36%. Không đòi hỏi phải có một phòng labo thụ tinh ống nghiệm với trang bị đắt tiền.
- Thụ tinh ống nghiệm (Invitro Fertilization -IVF ) và chuyển phôi vào buồng tử cung
Áp dụng nhiều nhất trên thế giới
Thụ tinh ống nghiệm là chọc hút một hay nhiều trứng đã trưởng thành từ buồng trứng cho thụ tinh với tinh trùng chồng trong phòng thí nghiệm, sau đó chuyển phôi phát triển tốt vào buồng tử cung để phôi làm tổ và phát triển thành thai nhi. Tỉ lệ có thai 25% cho một chu kỳ.
Các bước thực hiện thụ tinh ống nghiệm:
– Dùng thuốc để kích thích nhiều trứng phát triển.
– Theo dõi đo kích thước nang noãn, điều chỉnh lại thuốc thích hợp để tránh các tác dụng phụ (siêu âm đầu dò âm đạo – thử estradiol máu).
– Chọc hút trứng qua đường âm đạo (sau khi tiêm HCG 32-36 giờ)
– Lấy tinh trùng cùng ngày với chọc hút trứng.
– Cho thụ tinh vào ống nghiệm (trứng với tinh trùng và theo dõi hiện tượng thụ tinh ngày hôm sau dưới kính hiển vi)
– Chuyển phôi (2-3 ngày sau) qua đường âm đạo vào buồng tử cung, thường chuyển 3 phôi.
– Thử thai và theo dõi
- Thụ tinh ống nghiệm với kỹ thuật tiêm tinh trùng vào trứng
(Intracytoplasmic sperm injection – ICSI)
Cách mạng trong điều trị vô sinh nam. Tỉ lệ thụ tinh khoảng 70-80%. Tỉ lệ có thai 35-40%.
Các bước tiến hành giống như IVF chỉ khác ở chỗ sử dụng 2 kim thuỷ tinh với đầu cực nhỏ, một kim để cố định trứng, một kim để tiêm tinh trùng vào trứng.
- Bơm tinh trùng vào ổ bụng
(Direct intraperitoneal Insemination – DIPI )
Dùng thuốc kích thích rụng trứng và cho HCG để rụng trứng. Bơm 3 x 106 tinh trùng trong 2ml dung dịch Ham’sF F10 qua túi cùng Douglas
- Nuôi cấy trong âm đạo (Intravaginal culture – IVC)
Chọc hút trứng qua đường âm đạo và lấy 5 trứng với 3ml môi trường nuôi cấy (có 10 – 20.000 tinh trùng/ml) được bỏ vào một ống nghiệm. Sau đó đặt vào âm đạo trong thời gian 50 giờ. Tác giả thấy tỉ lệ thụ thai 22%. Không áp dụng rộng rãi do khó giữ được pH của môi trường nuôi cấy.
III. KẾT LUẬN
Điều trị hiếm muộn đã có thành tựu trong 10 năm qua nhờ các phương tiện hiện đại như nội soi phẫu thuật, siêu âm đầu dò âm đạo, xét nghiệm sinh hoá và nhất là các lĩnh vực nghiên cứu sâu về phôi thai học và sự thụ tinh.
Việc chọn lựa các phương pháp sinh sản thích hợp cho từng cặp vợ chồng nên làm từng bước. Khám và kiểm tra cặp vợ chồng để tìm nguyên nhân, để áp dụng phương pháp thích hợp nhất, áp dụng các phương pháp kích thích rụng trứng, bơm tinh trùng vào buồng tử cung đã có thể đạt được kết quả có thai, các trường hợp không có kết quả ta có thể áp dụng tiếp các phương pháp khác như thụ tinh ống nghiệm hoặc bơm tinh trùng trực tiếp vào bào tương noãn (ISCI).
Có nhiều phương pháp hỗ trợ sinh sản. Phổ biến và có hiệu quả thường dùng nhất hiện nay là các phương pháp kích thích rụng trứng, thụ tinh trong ống nghiệm và bơm tinh trùng vào buồng tử cung.
