CÁC RỐI LOẠN CỦA TUỔI DẬY THÌ
I. DẬY THÌ SỚM
Khi xuất hiện một hay nhiều tính chất sinh dục phụ trước 8 tuổi thì gọi là dậy thì sớm. Nếu chỉ có một triệu chứng đơn lẻ, có thể là vú phát triển hay lông mu mọc hoặc có kinh nguyệt sớm như:
– Nếu phát triển lông mu sớm đơn thuần thì nên định lượng 17-OH progesteron để loại trừ ức chế không hoàn toàn 21 – hydrolase.
– Nếu phát triển sớm các tính chất sinh dục phụ thì cần loại trừ có khối u ở vùng dưới đồi – tuyến yên.
– Nếu 2 buồng trứng vẫn nhỏ mà tử cung đã phát triển (qua siêu âm) thì cần tìm nguyên nhân ở thượng thận hay uống nhầm thuốc.
– Nếu dậy thì sớm kèm theo biểu hiện nam tính hóa: có thể do có khối u nam tính hóa ở thượng thận hay buồng trứng (siêu âm, định lượng testosteron, A₁ androstenedion).
II. DẬY THÌ MUỘN
Khi không xuất hiện các dấu hiệu phát triển sinh dục phụ sau 13 tuổi thì:
– Cần tìm hiểu tuổi dậy thì của mẹ.
– Cần tìm hiểu tiền sử bệnh lý mạn tính như: bệnh tim, suy hô hấp, suy thận, tiêu hóa kém…
– Khám lâm sàng đánh giá sự phát triển hình thể, cơ quan sinh dục (tử cung, buồng trứng… qua siêu âm) và sự phát triển vú, lông mu,…
Nguyên nhân có thể do:
Hội chứng Turner: cơ thể nhỏ, vai rộng, ngực lép, lưỡi nhỏ, tai bám thấp, cổ ngắn,.
Nhiễm sắc đồ có thể là: 45X, 45X và 46XX hoặc mất đoạn nhiễm sắc thể X.
– FSH và LH tăng cao: siêu âm không nhìn rõ 2 buồng trứng.
+ Tinh hoàn nữ tính: tuyến sinh dục ở ống bẹn, nhiễm sắc thể kiểu XY.
+ Khối u não.
+ Suy tuyến giáp.
+ Chậm trưởng thành.
Điều trị: chỉ khi trẻ có dấu hiệu chậm dậy thì do bệnh lý rõ rệt (như nêu ở trên) hay không rõ rệt mà trẻ đã tới tuổi 17-18.
+ Với hội chứng Turner: dùng hormon tăng trưởng kèm theo.
+ Với nguyên nhân ở vùng dưới đồi – tuyên yên trở lên: dùng HMG/hCG.
+ Dùng estrogen + progesteron tạo vòng kinh nhân tạo (từ 6-12 tháng).
III. CÁC BIỂU HIỆN BỆNH LÝ Ở TUỔI DẬY THÌ
- Rong kinh rong huyết
– Nguyên nhân:
+ Cơ năng: khi nồng độ estradiol của buồng trứng vượt 50µg/ml làm cho nội mạc tử cung phát triển, tuy chưa gây được đỉnh LH nên không gây rụng trứng, song khi nồng độ estradiol tụt gây chảy máu, niêm mạc tử cung không bong toàn bộ gây rong kinh – rong huyết tuổi dậy thì.
+ Thực thể:
- Khối u buồng trứng.
- Viêm niêm mạc tử cung.
- Chửa ngoài tử cung, sẩy thai, dọa sẩy thai.
– Điều trị:
+ Với các trường hợp có tổn thương thực thể thì điều trị theo nguyên nhân.
+ Với rong huyết cơ năng, cần điều trị bằng nội tiết:
- Viên tránh thai kết hợp: 2 viên 1 ngày trong các ngày đầu cho đến khi cầm máu, 1 viên 1 ngày cho đủ 3 tuần, ngừng thuốc đợi có kinh.
- 3-6 tháng sau: dùng ngày 1 viên trong 3 tuần cho mỗi chu kỳ kinh.
- Thuốc co bóp chặt cơ tử cung: methyl ergometrine 0.01mg x 2-3 viên/ngày, trong những ngày chảy máu.
- Tăng cường đông máu: dùng transamin.
- Bổ sung chất sắt: viên sắt, acid folic.
- 3-6 tháng sau: dùng ngày 1 viên trong 3 tuần cho mỗi chu kỳ kinh.
- Thuốc co bóp chặt cơ tử cung: methyl ergometrine 0.01mg x 2-3 viên/ngày, trong những ngày chảy máu.
- Tăng cường đông máu: dùng transamin.
- Bổ sung chất sắt: viên sắt, acid folic.
- Thống kinh
Có thể do nhiều nguyên nhân như: lạc nội mạc tử cung, dị dạng tử cung, u buồng trứng.
Song phần lớn do chế tiết bất thường của prostaglandin, do đó nên dùng thuốc kháng prostaglandin trước khi bắt đầu có kinh (aspirin, indomethacin, mobic…).
- Kinh thưa
Có thể do thiếu progesteron hay thừa oestrogen hoặc cường androgen thứ phát (trứng cá, rậm lông…) hay không có nguyên nhân.
Điều trị bổ sung utrogestan 200mg đến 300mg/ngày từ ngày 15 -25 của vòng kinh.
Nếu có dấu hiệu cường androgen dùng androcur 50mg/ngày, từ ngày 4 đến 24 của vòng kinh.
