IVF và các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản đang được áp dụng hiện nay

Kĩ thuật hỗ trợ sinh sản

Thuật ngữ kĩ thuật hỗ trợ sinh sản (KTHTSS) xuất phát từ gốc tiếng Anh là “Assisted Reproductive Technologies”, thường được viết tắt là ART. KTHTSS là những kĩ thuật kết hợp giữa y học và sinh học, can thiệp vào các giai đoạn của quá trình sinh lý sinh sản tự nhiên nhằm làm tăng khả năng sinh sản. Các KTHTSS ứng dụng các tiến bộ về nội tiết học và sinh học để can thiệp trên giao tử (tinh trùng, noãn) và phôi.

Các KTHTSS được định nghĩa bao gồm các kĩ thuật trợ giúp khả năng sinh sản, trong đó, tế bào noãn được lấy ra khỏi buồng trứng và xử lý bên ngoài cơ thể người phụ nữ. Như vậy, định nghĩa của KTHTSS không bao gồm kĩ thuật kích thích buồng trứng và bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI).

Thụ tinh trong ống nghiệm

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) được dịch từ gốc tiếng Anh là “In-vitro fertilization”, viết tắt tiếng Anh là IVF. Kĩ thuật IVF được thực hiện để điều trị hiếm muộn cho các cặp vợ chồng có các chỉ định sau: tắc vòi trứng, bất thường về số lượng và chất lượng tinh trùng, lạc nội mạc tử cung, hiếm muộn không rõ nguyên nhân… Ngoài ra, IVF còn được chỉ định cho các trường hợp xin noãn, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ.

Kĩ thuật IVF bao gồm nhiều công đoạn. Đầu tiên là kích thích buồng trứng để có nhiều noãn phát triển giúp tăng hiệu quả điều trị. Sau đó, thực hiện chọc hút noãn dưới hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo.

Noãn người sau khi chọc hút được sẽ được nuôi cấy với tinh trùng để thụ tinh tạo phôi. Các chuyên gia phôi học sẽ tiếp tục theo dõi nuôi phôi trong điều kiện bên ngoài cơ thể. Sau thời gian nuôi cấy phôi từ 2-5 ngày, phôi sẽ được chuyển vào buồng tử cung. Tùy theo giai đoạn phát triển của phôi, chất lượng phôi và tiên lượng thành công của bệnh nhân, bác sĩ thường quyết định cấy từ 1-3 phôi vào buồng tử cung, trong một số trường hợp đặc biệt, tối đa 5 phôi sẽ được đặt vào buồng tử cung. Các phôi chất lượng tốt còn dư lại sẽ được đông lạnh để có thể sử dụng sau đó.

Phôi sau khi đặt vào buồng tử cung sẽ có thể làm tổ và phát triển thành thai nhi. Khoảng 14 ngày sau cấy phôi, bệnh nhân có thể thử thai để biết kết quả. Việc theo dõi thai kì và sinh đẻ của thai từ IVF hoàn toàn như một thai bình thường. Tuy nhiên, tỉ lệ đa thai (hơn một thai) thường cao hơn đối với những trường hợp có thai từ IVF so với thai tự nhiên.

Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn

Thuật ngữ tiêm tinh trùng vào bào tương noãn xuất phát từ gốc tiếng Anh là “Intra- cytoplasmic sperm injection”, viết tắt là ICSI, đọc là “íc-si”. Đây là một kĩ thuật trợ giúp cho quá trình thụ tinh giữa noãn và tinh trùng trong trường hợp số lượng và chất lượng tinh trùng quá kém.

Hiện nay, theo các báo cáo thống kê trên thế giới, kĩ thuật ICSI được sử dụng nhiều hơn so với IVF cổ điển và tỉ lệ thực hiện ICSI ngày càng tăng ở hầu hết các nước. Kĩ thuật ICSI được áp dụng trong các chu kì IVF có các yếu tố sau: bất thường về số lượng và chất lượng tinh trùng, nghi ngờ có bất thường về thụ tinh giữa noãn và tinh trùng, tỉ lệ thụ tinh thấp ở những lần điều trị trước, chẩn đoán di truyền tiền làm tổ… Gần đây, ICSI có khuynh hướng được mở rộng cho nhiều chỉ định khác.

Trong kĩ thuật ICSI, người ta tiêm thẳng một tinh trùng vào bào tương noãn để thụ tinh noãn. Kĩ thuật này có sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác và kính hiển vi đảo ngược với độ phóng đại 200-300 lần. Với kĩ thuật IVF cổ điển, cần ít nhất vài trăm nghìn tinh trùng chất lượng tốt để cấy với một noãn. Trong khi với ICSI, chỉ cần một tinh trùng là có thể thụ tinh với một noãn. Do đó, ICSI được xem là một cuộc cách mạng trong điều trị hiếm muộn do nguyên nhân nam giới. Mặc dù số lượng tinh trùng cần thiết ít hơn rất nhiều, tỉ lệ thụ tinh giữa noãn và tinh trùng của kĩ thuật ICSI thường cao hơn so với IVF cổ điển.

Xin noãn

Là kĩ thuật giúp một phụ nữ (người nhận) có thể có thai với noãn của phụ nữ khác (người cho). Kĩ thuật xin noãn được sử dụng để điều trị cho những phụ nữ không thể có thai với noãn của mình vì nhiều nguyên nhân khác nhau:

(1) Suy buồng trứng (tương tự như mãn kinh): buồng trứng không còn hoạt động.

(2) Giảm dự trữ buồng trứng: buồng trứng có thể còn hoạt động nhưng số lượng và chất lượng noãn quá kém nên không có khả năng có thai hoặc khả năng có thai là quá thấp.

(3) Có bệnh lý ở buồng trứng hoặc đã cắt buồng trứng nên không có khả năng có thai.

Trong kĩ thuật này, người nhận và người cho sẽ được điều chỉnh cho chu kì kinh đồng bộ bằng thuốc nội tiết. Sau đó, người nhận sẽ được dùng thuốc nội tiết để chuẩn bị nội mạc tử cung. Song song đó, người cho sẽ được cho sử dụng thuốc kích thích buồng trứng. Khi nang noãn đủ lớn, người cho sẽ được chọc hút noãn. Noãn sẽ được thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng của chồng người nhận. Phôi được tạo ra sẽ được cấy vào buồng tử cung người nhận. Nếu phôi tiếp tục phát triển và làm tổ trong tử cung, người nhận có thể mang thai và sinh nở như bình thường. Nếu chất lượng noãn tốt, tỉ lệ có thai sau kĩ thuật xin noãn vào khảng 50%. Trường hợp người nhận chưa được chuẩn bị nội mạc tử cung phù hợp để chuyển phôi, phôi có thể được đông lạnh và rã đông để chuyển phôi vào chu kì kinh sau đó.

Mang thai hộ

Là kĩ thuật giúp một cặp vợ chồng, trong đó người vợ không thể mang thai vì lý do y học, có thể có con của chính mình. Kĩ thuật này được thực hiện thành công trên một số trường hợp đã cắt tử cung sau tai biến sản khoa. Các trường hợp đầu tiên này được thực hiện sau khi được sự cho phép của Bộ Y tế. Kĩ thuật này bị cấm thực hiện ở Việt Nam, theo nghị định của Chính phủ về “Sinh con theo phương pháp khoa học” ban hành cùng năm. Đến năm 2015, Luật Hôn nhân gia đình sửa đổi, được Quốc hội thông qua, chính thức cho phép Kĩ thuật Mang thai hộ mục đích nhân đạo được thực hiện ở Việt Nam. Hiện nay, cả nước có 4 trung tâm IVF được phép thực hiện Kĩ thuật Mang thai hộ: bệnh viện Phụ Sản Trung ương, bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Mỹ Đức Thành phố Hồ Chí Minh.

Các trường hợp có chỉ định mang thai hộ:

(1) Người vợ có tử cung bất thường hay bệnh lý không mang thai được

(2) Người vợ bị cắt tử cung do các bệnh lý hay tai biến sản khoa

(3) Người vợ bị bệnh nội khoa có thể diễn tiến nặng khi có thai và ảnh hưởng đến tính mạng mẹ và con

Kĩ thuật này được thực hiện gần tương tự như kĩ thuật xin noãn. Người mang thai hộ và phụ nữ nhờ mang thai sẽ được dùng thuốc nội tiết để điều chỉnh chu kì kinh. Người mang thai hộ sẽ được chuẩn bị nội mạc tử cung bằng nội tiết tố. Người nhờ mang thai sẽ được kích thích buồng trứng. Noãn chọc hút được từ người nhờ mang thai sẽ được thụ tinh trong ống nghiệm với tinh trùng của người chồng. Phôi của cặp vợ chồng sẽ được cấy vào tử cung người mang thai hộ. Nếu có thai, thai kì sẽ diễn ra hoàn toàn bình thường trong tử cung của người mang thai hộ. Sau khi sinh, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ sẽ nhận lại con của mình từ người mang thai hộ sau khi đã hoàn tất các thủ tục về pháp lý.

Đông lạnh và lưu trữ tinh trùng

Kĩ thuật đông lạnh giúp lưu giữ được tinh trùng trong thời gian nhiều năm mà vẫn còn khả năng thụ tinh sau khi rã đông. Trong kĩ thuật này, tinh trùng được pha với môi trường bảo vệ đông lạnh, sau đó được hạ nhiệt độ từ từ xuống đến khoảng -80°C. Sau đó, tinh trùng được lưu trữ trong nitơ lỏng ở nhiệt độ -196°C. Khi cần sử dụng, tinh trùng sẽ được rã đông. Sau rã đông, khoảng hơn 50% tinh trùng còn sống. Tinh trùng sống sau rã đông có khả năng thụ tinh noãn tương đương với tinh trùng bình thường.

Mô tinh hoàn được xử lý, đánh giá, sau đó đem hạ nhiệt, đông lạnh và lưu trữ. Sau khi rã đông, tinh trùng sẽ được phân lập và nuôi cấy qua đêm trước khi sử dụng cho kĩ thuật ICSI

Đông lạnh và lưu trữ phôi

Kĩ thuật đông lạnh giúp lưu trữ phôi trong nitơ lỏng trong thời gian nhiều năm.

Phôi sẽ được cho tiếp xúc với các môi trường bảo vệ với nồng độ tăng dần. Sau đó, phôi sẽ được đưa vào buồng hạ nhiệt độ khoảng 2 giờ trước khi cho vào nitơ lỏng (phương pháp đông lạnh chậm) hoặc cho thẳng vào nitơ lỏng (phương pháp thủy tinh hóa).

Khi cần sử dụng, phôi được rã đông, sau đó cấy trở lại vào buồng tử cung. Tỉ lệ phôi sống sau rã đông với phương pháp đông lạnh chậm là 70-80%. Tỉ lệ phôi sống sau rã đông với phương pháp thủy tinh hóa (đông lạnh cực nhanh) là trên 95%.

Sau đó, các hội thảo chuyển giao kĩ thuật này do HOSREM tổ chức đã giúp kĩ thuật đông lạnh phôi bằng thủy tinh hóa được ứng dụng thành công tại hầu hết các trung tâm IVF ở Việt Nam trong thời gian ngắn. Sau đó vài năm, kĩ thuật thủy tinh hóa đã thay thế hoàn toàn kĩ thuật đông lạnh chậm để trữ lạnh phôi tại các trung tâm IVF ở Việt Nam.

Đông lạnh và lưu trữ noãn

Noãn sau khi phóng noãn hoặc chọc hút ra ngoài cơ thể chỉ có khả năng thụ tinh và phát triển thành phôi trong vòng 24 giờ. Kĩ thuật đông lạnh giúp lưu trữ noãn trong thời gian nhiều năm.

Trong kĩ thuật đông lạnh noãn, noãn sẽ được cho tiếp xúc với các môi trường bảo vệ với nồng độ tăng dần. Sau đó, noãn sẽ được đưa vào buồng hạ nhiệt độ khoảng 2 giờ trước khi cho vào nitơ lỏng (phương pháp đông lạnh chậm) hoặc cho thẳng vào nitơ lỏng (phương pháp thủy tinh hóa). Kĩ thuật đông lạnh noãn hiệu quả nhất hiện nay là với phương pháp thủy tinh hóa

Khi cần sử dụng, noãn được rã đông, noãn sống sau rã đông vẫn có thể thụ tinh với tinh trùng bằng thụ tinh trong ống nghiệm để tạo thành phôi bình thường. Tỉ lệ noãn sống sau rã đông là trên 90%. Phôi được hình thành từ noãn rã đông khi cấy vào tử cung sẽ có khả năng tiếp tục phân chia, làm tổ và phát triển thành thai nhi như sinh lý bình thường. Do cấu trúc tế bào và đặc tính về di truyền của noãn, đông lạnh noãn thường có tỉ lệ thành công thấp hơn so với đông lạnh phôi.

Kết quả với số lượng lớn các trường hợp đông lạnh noãn ở Việt Nam với tỉ lệ thành công cao và ổn định. Sự phát triển của kĩ thuật đông lạnh noãn đã mở ra chỉ định trữ lạnh noãn dự phòng, duy trì khả năng sinh sản, cho các phụ nữ trẻ tuổi nhưng chưa muốn lập gia đình hoặc có con sớm.

Phẫu thuật trích tinh trùng

Đây là kĩ thuật sử dụng cho những trường hợp hiếm muộn nam không có tinh trùng. Theo các thống kê, khoảng 50% trường hợp không tìm thấy tinh trùng trong tinh dịch vẫn có tinh trùng trong mào tinh và tinh hoàn. Trong những trường hợp này, bệnh nhân có thể được thực hiện các thủ thuật trích tinh trùng để thu nhận tinh trùng và thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm.

Các phẫu thuật trích tinh trùng phổ biến hiện nay bao gồm:

  • Chọc hút tinh trùng từ mào tinh qua da Percutanous Epididymal Sperm Aspiration (PESA). Tóm tắt kĩ thuật: xác định vị trí mào tinh, chọc kim xuyên qua da để hút tinh trùng.
  • Chọc hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu – Microsurgical Epididymal Sperm Aspiration (MESA). Tóm tắt kĩ thuật: mở bao tinh hoàn, bộc lộ mào tinh và hút tinh trùng từ trong mào tinh.
  • Chọc hút tinh trùng từ tinh hoàn Testicular Sperm Aspiration (TESA). Tóm tắt kĩ thuật: đâm kim xuyên da vào mô tinh hoàn và hút lấy nhiều mẫu mô. Sau đó tìm và phân lập tinh trùng từ mô tinh hoàn hút được.
  • Phân lập tinh trùng từ mô tinh hoàn Testicular Sperm Extraction (TESE). Tóm tắt kĩ thuật: mở bao tinh hoàn, bộc lộ tinh hoàn, xẻ tinh hoàn và cắt lấy các phần mô được dự đoán là còn sinh tinh. Sau đó tìm và phân lập tinh trùng từ mô tinh hoàn.

Hiện nay, hai kĩ thuật trích tinh trùng được sử dụng thường xuyên nhất là PESA và TESE. Các kĩ thuật này có thể được thực hiện ở hầu hết tại các trung tâm IVF tại Việt Nam.

Gần đây một số trung tâm IVF ở Việt Nam cũng đã triển khai thành công kĩ thuật micro- TESE để trích xuất tinh trùng. Kĩ thuật này giúp tăng cơ hội tìm được tinh trùng ở những trường hợp không có tinh trùng không bế tắc và giảm thiểu tổn thương mô tinh hoàn.

Trưởng thành noãn trong ống nghiệm

Kĩ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm được viết tắt theo tiếng Anh là IVM (In-vitro Maturation). Với kĩ thuật này, bệnh nhân có thể được thực hiện IVF mà không phải kích thích buồng trứng. Noãn được chọc hút trực tiếp từ các nang noãn nhỏ ở buồng trứng, không kích thích buồng trứng trước đó. Sau đó, noãn tìm được sẽ được nuôi trưởng thành trong môi trường đặc biệt bên ngoài cơ thể. Noãn sau khi trưởng thành sẽ được cho thụ tinh với tinh trùng. Việc nuôi cấy phôi và chuyển phôi vào buồng tử cung sẽ được thực hiện như bình thường. Đây là một trong những số liệu nhiều nhất trên thế giới cho đến thời điểm báo cáo về kết quả sản khoa của các trẻ sinh ra từ IVM. Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước trên thế giới thực hiện được kĩ thuật này thường qui với số chu kì điều trị lớn hàng năm và tỉ lệ thành công khá ổn định. Đây cũng là kĩ thuật mà hiện nay chuyên ngành IVF Việt Nam đã tiệm cận được với trình độ thế giới. Các chuyên gia của Việt Nam thường xuyên được mời báo cáo tại các hội thảo, hội nghị trong khu vực và quốc tế về IVM. Nhiều nước cũng đã cử bác sĩ đến Việt Nam để học tập kinh nghiệm thực hiện IVM.

Kĩ thuật IVM mang lại nhiều lợi ích do bệnh nhân không phải kích thích buồng trứng:

– Giảm gần 50% chi phí so với IVF cổ điển nhờ giảm chi phí kích thích buồng trứng (thuốc và chi phí theo dõi)

– An toàn hơn cho bệnh nhân vì loại trừ hoàn toàn hội chứng quá kích buồng trứng

– Thân thiện hơn với người bệnh do ít tiêm thuốc, siêu âm, thử máu…

Nghiên cứu hồi cứu lớn nhất thế giới hiện nay đánh giá hiệu quả của IVM trên phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang được báo cáo bởi nhóm nghiên cứu IVFMD của Việt Nam. Sau đó, nhóm nghiên cứu này tiếp tục công bố một nghiên cứu với số liệu hồi cứu lớn nhất thế giới nhằm so sánh hiệu quả và an toàn của kĩ thuật IVM so với IVF cổ điển trên những phụ nữ có dự trữ buồng trứng cao. Nhóm IVFMD Việt Nam hiện nay đang dẫn đầu thế giới về việc áp dụng phác đồ IVM cải tiến, capa-IVM, để cải thiện tỉ lệ trưởng thành noãn, chất lượng noãn và chất lượng phôi, nâng cao tỉ lệ thành công của IVM.

Kĩ thuật hỗ trợ phôi thoát màng

Để có thể bám vào nội mạc tử cung và làm tổ, phôi phải thoát khỏi màng trong suốt bao quanh phôi. Trong IVF, phôi được nuôi cấy trong môi trường bên ngoài cơ thể (in-vitro) và sau đó được cấy lại vào buồng tử cung. Một số nghiên cứu ghi nhận tính chất màng trong suốt có thể bị thay đổi do môi trường nuôi cấy khác biệt với môi trường trong tử cung. Do đó, phôi phát triển trong môi trường in-vitro có thể gặp khó khăn khi thoát khỏi màng trong suốt. Ngoài ra, một số trường hợp có màng trong suốt dày bất thường gây khó khăn cho việc thoát màng của phôi.

Để khắc phục điều này, kĩ thuật hỗ trợ phôi thoát màng được thực hiện bằng cách làm mỏng hoặc tạo một lỗ thủng trên màng trong suốt trước khi cấy phôi vào tử cung. Nhờ đó, phôi có thể thoát màng dễ hơn, tỉ lệ làm tổ và khả năng có thai sau IVF được cải thiện. Hai phương pháp phổ biến được sử dụng để hỗ trợ phôi thoát màng hiện nay là sử dụng dung dịch Tyrode hoặc tia Laser. Dữ liệu từ thư viện Cochrane mới nhất cho thấy, nói chung, hỗ trợ phôi thoát màng có thể làm tỉ lệ thai lâm sàng tăng khoảng 1,3 lần so với bình thường. Tuy nhiên, chỉ định của hỗ trợ phôi thoát màng hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận. Theo khuyến cáo, hỗ trợ thoát màng có liên quan đến việc làm tăng thêm nguy cơ đa thai, do đó, không nên được thực hiện ở tất cả các chu kỳ IVF do chưa có đủ bằng chứng cho thấy AH có thể nâng cao tỉ lệ sinh sống

Nghiên cứu so sánh hiệu quả của hỗ trợ phôi thoát màng bằng dung dịch Tyrode với Laser

HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯƠNG LAI CỦA IVF

Kĩ thuật IVM

Ban đầu, kích thích buồng trứng được sử dụng để tăng số lượng noãn có được trong chu kì điều trị. Các phác đồ kích thích buồng trứng có kiểm soát ngày càng phát triển giúp đạt số lượng noãn nhiều và chất lượng noãn ổn định. Tuy nhiên, kích thích buồng trứng nhiều làm tăng các nguy cơ khi điều trị IVF. Chi phí thuốc kích thích buồng trứng khá cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Kĩ thuật IVM ngày càng phát triển, tỉ lệ noãn trưởng thành ngày càng tăng, chất lượng noãn và phôi tạo ra từ IVM ngày càng cải thiện. IVM giúp giảm thiểu kích thích buồng trứng và loại trừ nguy cơ hội chứng quá kích buồng trứng. Do đó, trong tương lai, với các trường hợp dự trữ buồng trứng tốt, IVM có thể là một chọn lựa hàng đầu.

Giảm thiểu số phôi chuyển mỗi lần vào tử cung

IVF và các KTHTSS làm gia tăng đáng kể tình trạng đa thai trên thế giới. Tỉ lệ đa thai tăng đi kèm với các biến chứng của đa thai như sinh non và các di chứng của sinh non. Để giảm tỉ lệ đa thai, xu hướng giảm số phôi chuyển vào buồng tử cung được khuyến khích và phát triển mạnh. Với sự phát triển của kĩ thuật đông lạnh, xu hướng giảm số phôi chuyển vào buồng tử cung trong chu kì chuyển phôi tươi ngày càng được ủng hộ. Các phôi tốt còn dư sẽ được đông lạnh và chuyển phôi ở một hay nhiều lần sau đó.

Một số nước có qui định chỉ chuyển một phôi vào tử cung trong những trường hợp tiên lượng tốt. Hiện nay, đa số các nước trên thế giới hạn chế số phôi chuyển vào buồng tử cung là hai hoặc một ở những trường hợp tiên lượng tốt và trung bình. Ngoài ra, kĩ thuật nuôi cấy phôi ngày càng phát triển cho phép nuôi cấy phôi dài ngày (ngày 5 hoặc 6) và chọn lọc được phôi tiềm năng tốt hơn. Chuyển đơn phôi nang hiện đang là xu hướng chung của các trung tâm IVF nhằm mang đến kết quả điều trị an toàn và hiệu quả.

Kĩ thuật xét nghiệm di truyền phôi tiền làm tổ

Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (Pre- implantation Genetic Test – PGT) được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2009 do nhóm nghiên cứu tại IVF Vạn Hạnh phối hợp với nhóm nghiên cứu về Di truyền của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện. Đây là đề tài nghiên cứu cấp thành phố do Sở Khoa học công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh quản lý. Từ năm 2016, PGT với sinh thiết phôi nang kết hợp với giải trình tự thế hệ mới đã được nghiên cứu áp dụng bởi nhóm nghiên cứu từ IVFMD và Gentis. Từ đó, kĩ thuật PGT được triển khai và áp dụng ở nhiều trung tâm IVF tại Việt Nam cho các chỉ định: tầm soát phôi lệch bội (PGT-A), chẩn đoán bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể (PGT-SR), chẩn đoán bất thường đơn gene (PGT-M).

Với sự phát triển của các thiết bị giải trình tự và công nghệ sinh học, PGT ngày càng phát triển và đồng hành với IVF. Trong tương lai, IVF có thể trở thành một công cụ để xét nghiệm di truyền phôi, chứ không đơn thuần là một kĩ thuật điều trị hiếm muộn

Nuôi cấy phôi bằng hệ thống time-lapse monitoring (TLM) và áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lựa chọn phôi

Hệ thống TLM (Time-Lapse Monitoring) là hệ thống nuôi cấy có tích hợp với camera, được sử dụng tại Việt Nam từ năm 2013 tại IVF Vạn Hạnh và IVFAS. Đây là một xu hướng kĩ thuật ngày càng phổ biến tại các trung tâm IVF trên thế giới. Hiện nay, trung tâm IVFMD – Bệnh viện Mỹ Đức và IVFMD PN – Bệnh viện Mỹ Đức Phú Nhuận là những nơi đi đầu về ứng dụng các tủ cấy tích hợp camera hiện đại vào nuôi cấy phôi.

Ưu điểm của TLM là phôi được nuôi cấy trong môi trường ổn định, các hình ảnh động về sự phát triển của phôi được ghi nhận trong suốt quá trình nuôi cấy phôi. Các thông tin về sự phát triển của phôi có thể được phân tích bằng các thuật toán từ đơn giản đến phức tạp để giúp chọn lựa được phôi tốt. Gần đây, nhiều tác giả đã áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dựa trên dữ liệu rất lớn về động học phôi và kết quả thai của phôi, để chọn lựa phôi. Kết quả các nghiên cứu gần đây về AI với dữ liệu từ TLM cho thấy đây là lĩnh vực rất nhiều triển vọng.

Áp dụng quản trị chất lượng vào IVF

Quan điểm quản trị chất lượng trong IVF phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 21 và hiện được áp dụng rộng rãi tại nhiều nước phát triển trên thế giới. IVF là một chuỗi các qui trình về lâm sàng và lab được thực hiện liên tiếp và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Kết quả của một khâu có thể ảnh hưởng lớn đến khâu kế tiếp và kết quả chung. Đặc biệt, thất bại ở một khâu bất kì trong qui trình điều trị đều có thể dẫn đến thất bại của cả chu kì điều trị làm cho bệnh nhân không có thai.

Các trung tâm xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng tốt, đảm bảo sự an toàn và ổn định của các công đoạn trong qui trình IVF, thường có tỉ lệ có thai cao và ổn định hơn. Các hệ thống được quản trị tốt sẽ có nhiều khả năng xây dựng thành công một qui trình quản lý chất lượng tốt, giúp tăng tỉ lệ có thai, tăng tính an toàn và tăng sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ.

Quản trị chất lượng đã làm thay đổi đáng kể cách thức quản lý và điều hành các chương trình IVF trên thế giới. Các chương trình quản trị chất lượng đã giúp ổn định và cải thiện liên tục tỉ lệ thành công. Việc đầu tư cho hệ thống quản trị chất lượng trong IVF đã giúp gia tăng hiệu quả của IVF cũng như đem đến sự an toàn và hài lòng cho bệnh nhân. Quản trị chất lượng trong IVF cũng đã được quan tâm và đầu tư phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây. Một số trung tâm hàng đầu đã bắt đầu xây dựng các hệ thống này.

Các vấn đề trong hướng phát triển này bao gồm: kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng toàn diện. Ngày càng có nhiều nước đưa tiêu chuẩn quản trị chất lượng vào điều kiện cho phép hoạt động của một trung tâm IVF.

Hiện nay, một số trung tâm IVF ở Việt Nam đang áp dụng bộ tiêu chí chất lượng của RTAC (Reproductive Technology Accreditation Committee). Đây là bộ tiêu chí chất lượng phổ biến nhất trong khu vực. Ngoài ra, HOSREM đã biên soạn và phổ biến một bộ tiêu chí chất lượng hỗ trợ sinh sản của Việt Nam (VN-ARQA) được biên soạn phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bộ tiêu chí VN-ARQA hiện cũng đang được nhiều bệnh viện áp dụng.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *