KHUNG CHẬU HẸP
– Lúc đẻ thai phải chui qua khung chậu để sổ ra ngoài, nếu khung chậu hẹp hay biến dạng sẽ là một nguyên nhân gây khó đẻ.
– Về mặt lâm sàng rất dễ dàng chẩn đoán loại khung chậu hẹp điển hình, nhưng rất khó chẩn đoán các loại khung chậu hẹp một cách kín đáo. Vì vậy phải làm các thăm dò cần thiết như siêu âm, X quang hoặc làm nghiệm pháp lọt phát hiện sự bất cân xứng giữa thai và khung chậu để xử trí lấy thai ra kịp thời.
I. NGUYÊN NHÂN
- Bẩm sinh
Thiểu sản khung chậu (khung chậu của người lùn, người bé nhỏ).
– Cột sống vẹo bẩm sinh, khung chậu hẹp, méo
- Thiếu dinh dưỡng
Bị bệnh còi xương kém phát triển từ nhỏ.
- Bệnh lý nội khoa
Bị bệnh bại liệt từ nhỏ, nhiễm virus khác gây liệt, lao cột sống.
4. Bệnh ngoại khoa
Chấn thương gẫy xương chậu, gãy xương đùi ở tuổi thiếu niên, điều trị không tốt gây thọt, tạo áp lực lên xương chậu không đều, sai khớp không được điều trị, gây thọt chân, khập khễnh
II. PHÂN LOẠI
- Khung chậu hẹp đối xứng: có đặc điểm:
– Eo trên:
+ Các đường kính đều hẹp.
+ Đường kính ngang dài hơn đường kính trước sau: khung chậu dẹt.
+ Đường kính trước sau dài hơn đường kính ngang: khung chậu hẹp kiểu xương chậu của khỉ.
– Eo giữa:
+ Gai hông bị lồi nhiều làm cho đường kính ngang eo giữa hẹp.
+ Xương cùng thẳng, có khi bị lồi ra trước.
– Eo dưới:
+ Góc dưới vệ hẹp ≤ 75°.
+ Đường kính lưỡng ụ ngồi hẹp.
+ Xương cụt cong ra phía trước.
- Khung chậu hẹp không đối xứng (hậu quả của áp lực lên khung chậu không đều trên người và vẹo cột sống)
– Eo trên: bị méo, các đường kính ngắn, dài không đối xứng với nhau, hình trám Michealis không đối xứng.
– Đường gờ vô danh bị kéo lên cao.
3. Khung chậu hẹp và có kiểu hình đặc biệt cho một số bệnh lý
– Khung chậu ở người còi xương: thuộc loại hẹp đều hay dẹt.
– Khung chậu ở người gù: eo trên rộng, eo dưới hẹp, hai mặt bên cong vào.
– Khung chậu ở người sai khớp háng hai bên bẩm sinh: eo trên hẹp eo dưới rộng.
– Khung chậu ở người bị bại liệt: tạo nên dị hình phức tạp.
– Khung chậu ở người gẫy xương chậu: hình dáng phụ thuộc vào vị trí gẫy xương. Sự can xương sau điều trị gây nên những chỗ lồi vào trong lòng khung chậu.
III. XỬ TRÍ
– Trường hợp khung chậu hẹp kín đáo, các số đo ở trị số giới hạn, thai không to, ngôi chỏm thì làm nghiệm pháp lọt ngôi thai và theo dõi, nếu thất bại thì mổ lấy thai.
– Trường hợp khung chậu lệch, thai nhỏ, cũng có thể làm nghiệm pháp lot ngôi thai, nếu khó khăn thì mổ lấy thai.
– Trường hợp khung chậu lệch, thai to, khung chậu hẹp rõ, bất tương xứng giữa thai và khung chậu thì mổ lấy thai.
