PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG VIỆC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
MỞ ĐẦU
Phẫu thuật nội soi ổ bụng được chỉ định rộng rãi trong chẩn đoán và điều trị vô sinh.
Khi nội soi trong vô sinh ta thường tiến hành cùng một lúc.
- Chẩn đoán và điều trị các tổn thương vòi trứng :
– Chẩn đoán : vô sinh do tổn thương vòi trứng. Đánh giá các chỉ số dính và tổn thương vòi trứng.
– Điều trị: nhờ các thủ thuật gỡ dính (adhéolyse), tái tạo loa vòi (néosalpingotomie) nối vòi trứng.
- Bơm thuốc màu (xanh methylen ) để kiểm tra xem vòi trứng có bị tắc không ? (dye test).
- Soi buồng tử cung
I. CÁC CHỈ ĐỊNH CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG VIỆC CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
– Nội soi chẩn đoán được chỉ định ở phụ nữ vô sinh trên 25 tuổi, giao hợp không được bảo vệ trên 2 năm (SS Ratman và Soon Chye Vy). Thường kết hợp với nội soi buồng tử cung.
– Tắc ống dẫn trứng đoạn xa : đánh giá tổn thương ống dẫn trứng và độ dính theo bảng đánh giá của Mage và Bruhat (Pháp).
– Vô sinh do giải dính đơn độc sau phầu thuật bụng và vùng chậu (viêm ruột thừa, viêm phúc mạc…).
– Vô sinh sau “đoạn sản”.
– Tắc ống dẫn trứng nhiều ổ.
II. CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ TỔN THƯƠNG VÒI TRỨNG ĐOẠN XA VÀ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ ĐỘ DÍNH
Ý nghĩa của bảng chỉ số : đánh giá được các tổn thương và qua đó đề ra chỉ định điều trị.
- Chỉ số đánh giá tổn thương vòi trứng
Dựa vào 3 yếu tố :
– Niêm mạc vòi trứng.
– Thành vòi trứng qua chụp tử cung, vòi trứng và nội soi chẩn đoán.
– Độ thông vòi trứng.
Cho điểm 0, 2, 5, 10 và có 4 giai đoạn. Chỉ định điều trị vời trứng theo giai đoạn như sau :
Giai đoạn 1: gỡ dính
Giai đoạn 2: tạo hình loa vòi
Giai đoạn 3: tuỳ theo sự đánh giá của phẫu thuật viên để có cách xử trí thích hợp.
Giai đoạn 4 : chuyển sang làm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON).
III. KẾT QUẢ PHẪU THUẬT QUA ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ VÒI TRỨNG ĐOẠN XA VÀ ĐỘ DÍNH
Căn cứ vào hình chụp tử cung vòi trứng (HSG), có 2 khả năng :
– Không có chỉ định mổ mà chuyển thắng sang làm TTTON : khi có ứ dịch vòi trứng toàn bộ kèm theo mất nếp gấp, ứ dịch vòi trứng kèm theo tổn thương đoạn gần vòi trứng.
– Có chỉ định mổ để chẩn đoán và đánh giá tổn thương. Sau đó cần căn cứ vào chỉ số đánh giá độ dính và tổn thương ống dẫn trứng để xử trí. Nếu 2 vòi trứng tổn thương nặng nên kẹp đốt 2 vòi trứng ngay sát góc tử cung để tránh bị thai ngoài tử cung và nhiễm trùng lan từ vòi trứng vào tử cung làm giảm tỉ lệ thụ thai khi làm thụ tinh trong ống nghiệm (chỉ số vòi trứng ở giai đoạn 3-4).
Sau khi xử trí phẫu thuật chờ có thai trong vòng 12 – 24 tháng.
Quá thời hạn trên chuyển sang làm thụ tinh trong ống nghiệm.
IV. KẾT LUẬN
Tỷ lệ vô sinh do nữ chiếm 52,8%.
Trong đó do:
– Vòi trứng: 10,6%
– Lạc nội mạc tử cung: 15,8%
– Rối loạn rụng trứng; 23,8%
– Nguyên nhân khác: 2,5%
Trong nguyên nhân vô sinh, phẫu thuật nội soi chấn đoán điều trị là một công cụ tốt để chẩn đoán và giải quyết các trường hợp vô sinh do nguyên nhãn vòi trứng:
Chiến lược điều trị dựa vào bảng chỉ số đánh giá tổn thương vòi trứng ở đoạn xa và đánh giá độ dính của Mage và Bruhat. Thời gian 18 tháng là thời gian để đánh giá kết quả của việc điều trị bằng nội soi. Nếu không có thai nên chuyển bệnh nhân sang điều trị bằng thụ tinh trong ống nghiệm.
