SỬ DỤNG THUỐC TRONG THỜI KỲ CHO CON BÚ

¯ SỬ DỤNG THUỐC TRONG THỜI KỲ CHO CON BÚ

  1. SỮA VÀ THUỐC

Tuyến vú của người như một màng lọc khá hiệu quả đề ngăn sự nhiễm bẩn của Huyết tương và sữa là hai khoang sinh lý độc lập. Thuốc được tìm thấy thấy trong máu sữa. Hẹ phải đi qua thành mao mạch, màng đáy và thành các tế bào tiết để vào sữa. Sự đi qua này chỉ cho phần tự do và không đồng hóa của thuốc. Nó phụ thuộc vào mức độ ion hóa, mỡ máu, thời gian bán hủy, sự gắn với protein huyết tương, trọng lượng phân tử. Nồng độ huyết tương mẹ phụ thuộc vào sinh khả dụng, thể tích phân phối, liều lượng, thời gian dùng thuốc và chuyển hóa gan thận của mẹ. Do các yếu tố khác nhau, trẻ chỉ thường nhận nhiều nhất 1% mà mẹ nhận được.

Hệ thống tiêu hóa của trẻ sơ sinh hoạt động như một màng lọc thứ hai. Một số chất, dù đi vào sữa với lượng quan trọng, lại bị phá hủy hệ dạ dày – ruột của trẻ sơ sinh hoặc được hấp thu kém bởi niêm mạc của hệ tiêu hóa.

Yếu tố duy nhất để giữ nồng độ thuốc trong huyết tương phụ thuộc vào liều lượng, cách dùng và chức năng đào thải của gan, thận của người mẹ. Sự vận chuyển vào sữa là tối đa với các phân tử hòa tan ít gắn với protein huyết tương, thời gian bán thải dài và/ hoặc có các hoạt chất. Sự hấp thụ bởi nuôi dưỡng phụ thuộc vào lượng sữa cho bú, lượng sữa biến đổi trong ngày và trong một khoảng thời gian. Cuối cùng, một số đặc điểm như sinh non, thiếu glucose 6PD là các yếu tố nguy cơ cụ thể.

Thuốc được chỉ định:

Tránh sử dụng thuốc ở mức tối đa. Sự có mặt của thuốc trong sữa phụ thuộc vào số lần dùng. Kể cả các thuốc đường tại chỗ vẫn phải xem xét mỗi lần sử dụng vì có thể gây sự tích tụ thuốc ở trẻ sơ sinh.

Các lưu ý khi sử dụng thuốc cho người mẹ:

– Triệu chứng và bệnh lý của người phụ nữ có thực sự cần điều trị?

– Việc điều trị, với kết quả tương ứng, có thể hiện nguy cơ ít nhất cho trẻ đang bú mẹ không?

– Nguy cơ cho việc cho con bú có lớn hơn lợi ích mà nó mang lại?

– Nếu việc chỉ định thuốc là hợp lý, chỉ kê cho người mẹ các thuốc thiết yếu.

– Nếu liều là duy nhất, tốt hơn là người mẹ nên dùng sau khi cho con bú.

– Nếu điều trị trong thời gian ngắn và dùng thuốc chống chỉ định cho con bú hoặc ít được biết đến, luôn có thể ngừng cho bú tạm thời và duy trì sữa mẹ với máy hút sữa.

– Phải cảnh báo người mẹ việc tự dùng thuốc gây những hậu quả khó lường.

– Các sản phẩm được chỉ định và tự chỉ định thường gặp nhất là các thuốc giảm đau, kháng sinh, kháng histamin và các thuốc an thần.

Bảng 1 liệt kê các thuốc có thể sử dụng trong khi cho con bú và các thuốc chống chỉ định. Thận trọng trong sử dụng thuốc cũng gặp trong một vài trường hợp. Cần phải tuân thủ các khuyến cáo

Thuốc có thể dùng trong thời gian cho con bú Chống chỉ định dùng thuốc trong thời gian cho con bú
 

Giảm đau:

 

Paracetamol

 

Ibuprofene

 

Kháng sinh:

Penicilin

 

Cephalosporin thế hệ 1

 

Macrolid (có thể gây rối loạn tiêu hóa ở trẻ)

Chống kí sinh trùng:

Chloroquine, metronidazol (Flagyl nếu nặng), tinidazole (Fasigyne nếu có thể tuân thủ cách nhau 72 giờ giữa 2 liều), pyrvinium (Povanyl) Kháng histamin: Loratadine, cetirizine Tim mạch:

 

Heparin và muối heparin calci

 

Wafarin, acenocoumarol

 

Propanolol (Alvocardyl)

Phổi:

 

Terbutaline (Bricanyl), salbutamol

Tiêu hóa:

 

Chất hấp phụ: carbon, kaolin

Hormon:

 

Hormon tuyến giáp

 

Insuline

Propylthiouracile

B – blocker

 

Propanolol (Avlocardyl)

Labetalol (Trandate)

Tăng huyết áp:

 

Alpha methyldopa (Aldomet)

 

Dihyralazine (Nepressol)

 

Captopril (Captolane, Lopril)

 

Kháng sinh:

 

Chloramphenicol

 

Novobiocine

 

Streptomycine

 

Sulfamides

 

Cyclines, quinolones

polyvidone iod

 

Hệ thần kinh trung ương:

 

Bromures (calcibronat, neurocalcium)

 

Lithium

 

Meprobamate (equanil)

 

Morphinic, bao gồm dextropropoxyphene (antalvic, propofan) Tim mạch:

 

Amiodaron (corbionax, cordarone)

 

Thuốc chống đông đường uống (pindione, tromexane, previscan) diazoxide (Hyperstat, proglicem) ephedrine, pseudo ephedrine reserpine

Hormon

 

Thuốc giảm cân đường uống

 

Thuốc tổng hợp hormon thyroid

 

Cyproterone

 

Lode

 

Giảm đau và điều trị bệnh khớp:

 

Aspirine dùng lặp lại

 

Iridometacine

 

Piroxican (Feldene)

Phenylbutazone và các dẫn xuất:

 

Colchicine

 

Phenacetine

 

Khác

 

Thuốc ung thư

 

Atropine ngay cả tại chỗ trong tai mũi học và nhãn khoa

 

Dẫn xuất của ergo

 

Thuốc phóng xạ

 

Thuốc nhuận tràng loại phenolphtaneine

 

Thuốc gây nghiện

 

Alcool

 

Cocaine

 

Heroine

 

Phencyclidine

 

Tabac

 

1.1. Thuốc giảm đau

Paracetamol được bài tiết với hàm lượng thấp trong sữa và được sử dụng ở trẻ nên không nguy hiêm.

Aspirin qua sữa it, tuy nhiên có thể tích lũy trong sữa và vì vậy không khuyên dùng lập lại với liều cao.

Các thuốc giảm đau kháng viêm không steroid ít qua sữa. Nên sử dụng các chế phẩm có thời gian bản thải ngắn như ibuprofene, acid mefenamic và diclofenac.

Morphine: Sinh khả dụng đường uống thấp giải thích hàm lượng trẻ hấp thu là không định lượng được. Trong giai đoạn hậu sản, việc sử dụng thuốc qua đường tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch không nguy hiểm do thời gian tác dụng ngắn, tương tự với pentazocine, buprenorphine và nalbuphine.

1.2. Thuốc nhuận tràng

Các thuốc nhuận tràng trong phần lớn trường hợp không gây nguy hiểm. Nhưng cũng có ghi nhận về sự tồn tại thường xuyên của thuốc ở trong sữa mẹ và một vài chất có thể gây ra tiêu chảy cho trẻ.

1.3. Kháng histamin

Loại chất được nghiên cứu nhiều nhất gần đây là loratadine (Clarityne) hoặc cetirizine (Zyrtec, virlix) cũng là lựa chọn tốt nhất các thuốc khác có thời gian bán thải dài nên không được khuyên sử dụng, chúng có thể gây ra tình trạng ngủ gà, rối loạn tiêu hóa ở trẻ sơ sinh. Cyroheptadine (Periactine) là một chất ức chế tiết sữa.

1.4. Kháng sinh

Có thể chỉ định penicilin, cephalosporin thế hệ 1, macrolide, erythromycine và metronidazol.

Với nhóm macrolide, cần tránh kết hợp với dẫn xuất của nấm ergo (ergometrine, methylergometrine) vì chúng gây nguy hiểm cho cả mẹ và trẻ.

Các thuốc kháng virus như acyclovir (Zovirax) qua sữa ít nên có thể được chỉ định.

Đối với các thuốc kháng kí sinh trùng, metronidazole (Flagyl) và paraziquantel (biltricide) qua sữa ít và thời gian điều trị ngắn có thể chấp nhận.

1.5. Thuốc chống nấm

Fluconazole (Triflucan) được phép sử dụng.

1.6. Thuốc chống đông

Heparin và heparin trọng lượng phân tử thấp (Lovenox, Fraxiparine, Fragmine) không qua sữa và vì vậy không là chống chỉ định. Warfarine (Coumadine) và acenocoumarol (Sintrom) có thể sử dụng.

1.7. Thuốc nội tiết

Insuline, levothyroxine, propylthiouracil (PTU) có thể sử dụng khi đang cho con bú. Trong trường hợp tránh thai, phải ưu tiên sử dụng microprogestatifs, progestatif tiêm, cấy que tránh thai không gây bất lợi nào cho việc cho con bú và cho trẻ sơ sinh. Tránh thai phải bắt đầu từ tuần thứ 3 sau sinh.

1.8. Corticoid

Prednisone, prednisolone, methylprednisolone có thể sử dụng với liều dưới 80mg và trong thời gian ngắn.

1.9. ẞ – bloquant

Hàm lượng thuốc trong máu thấp và liều ghi nhận được ở trẻ cũng thấp. Có thể sử dụng các thuốc có thời gian bán thải ngắn như propanolol (avlocardyl) hoặc labetalol (trandate).

1.10. Thuốc điều trị tăng huyết áp

Alphamethyldopa (Aldomet), dihydralazine (Nepressol), captopril (captalone, lopril) có thể sử dụng và cần theo dõi trẻ.

  1. CÁC THUỐC CHỐNG CHỈ ĐỊNH

2.1. Ức chế chuyển hóa

Nhóm thuốc ức chế chuyển hóa không được sử dụng trong thời gian cho con bú vì có thể gây nên bất sản tủy ở trẻ sơ sinh. Các thuốc này gồm các thuốc phóng xạ. Trong trường hợp thuốc đồng vị phóng xạ có thời gian tác dụng ngắn và đào thải nhanh chóng, có thể tiếp tục cho trẻ bú sau khi ngừng thuốc 2 – 3 ngày.

2.2. Thuốc chống đông

Pindione, previscan là các thuốc chống chỉ định. Coumarin như tioclomarol (apegmone), wafarine (coumadine), acecoumarol (sintrom) không được sử dụng. Tốt nhất nên sử dụng heparin hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp.

2.3. Thuốc an thần

Trong phần lớn trường hợp nên tránh hoặc sử dụng một cách thận trọng. ½ hoặc ½ liều lithium có thể xuất hiện trong sữa và vì vậy phải chống chỉ định.

2.4. Barbituric

Trong thực hành lâm sàng, việc sử dụng barbituric rất thay đổi. Một vài trường hợp không có nguy hiểm gì với liều điều trị nhưng cũng có trường hợp barbituric bị chống chỉ định.

2.5. Thuốc điều trị tâm lý

Đây là các thuốc gây ra nhiều vấn đề nhất. Benzodiazepines có thể được sử dụng theo đúng thời gian và trong thời gian ngắn. Nên ưu tiên sử dụng serestat và temestat. Với các thuốc chống trầm cảm, có thể ưu tiên các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin như paroxetine (deroxat), sertraline (zoloft) là những thuốc đi qua sữa ít. Fluoxedine (prozac) không được khuyên dùng.

2.6. Thuốc chống động kinh

Depakine hoặc tegretol thích hợp hơn Gardenal (thuốc qua sữa nhiều).

Lamotrigine được tiết trong sữa và vào trẻ ở mức liều đáng kể vì vậy không dùng khi đang cho trẻ bú. Vigabatrin, gabapentine và clobazam còn ít dữ liệu nghiên cứu.

2.7. Kháng sinh

Trong số các kháng sinh, chloramphenicol, novobiocrine, streptomycine, cycline, quinolone, sulfamide, fluoroquinolones là các thuốc chống chỉ định.

2.8. Hormon

Các hormon phải tránh sử dụng vì chúng qua được sữa. Trong trường hợp tránh thai, oestroprogestatifs là chống chỉ định. Tuy nhiên, có thể bắt đầu sử dụng một cách chặt chẽ ở liều thấp (30ug ethinyl – oestradiol hoặc ít hơn) khi sự tăng lượng sữa ổn định (15 – 20 ngày sau sinh, thậm chí đến 6 tuần sau) và hướng dẫn bà mẹ uống thuốc sau bữa bú cuối cùng buổi tối.

2.9. Chế phẩm từ nấm ergo

Các chế phẩm có nguồn gốc từ nấm ergo kí sinh trên lúa mạch đen được sử dụng trong điều trị đau nửa đầu migraines có thể gây ra nôn, tiêu chảy và các tác dụng độc khác trên trẻ sơ sinh. Vì vậy phải chống chỉ định dùng các thuốc này. Thuốc Méthergin qua sữa và có thể gây ra tăng huyết áp động mạch, rối loạn nhịp tim (nhịp nhanh hoặc chậm), nôn hoặc tiêu chảy ở trẻ sơ sinh. Về nguyên tắc thuốc này không được sử dụng ở phụ nữ đang cho con bú. Nếu bắt buộc phải chỉ định, không dùng quá 3 ngày và phải theo dõi trẻ.

2.10. Tim mạch

Trong các thuốc sử dụng, cần tránh các thuốc: Digitalis, thuốc chống loạn nhịp, thuốc điều trị tăng huyết áp, như thuốc clonidine (Catapressan).

2.11. Phổi

Thuốc trị ho có chứa iod, codein và théopyline là các thuốc cần tránh.

2.12. Hệ tiêu hóa

Cần tránh các thuốc nhuận tràng hóa học và kháng Histamin H2 (Tagamet và Azantac) vì thuốc có thể qua sữa dù chúng không có tác dụng bệnh lý nào được mô tả.

2.13. Khác

Các thuốc ức chế miễn dịch (cyclosporine) cần tránh vì nguy cơ ức chế miễn dịch ở trẻ và tác dụng không rõ trên khối u.

Cần tránh sử dụng nicotine. Mẹ hút thuốc lá từ một bao mỗi ngày có thể gây ra kích thích, tiêu chảy, nôn và nhịp tim nhanh cho trẻ sơ sinh.

  1. CẤT SỮA

3.1. Ngay sau khi sinh

Sự tiết sữa là một hiện tượng sinh lý sinh tồn ở phụ nữ trẻ khỏe mạnh. Vì vậy các biện pháp ức chế tiết sữa không độc hại được ưu tiên.

Sự thiếu kích thích tuyến sữa bởi động tác mút bú của trẻ, việc mặc áo ngực chặt, đủ để gây đừng tiết sữa sau 1 hoặc 2 tuần trong 60% trường hợp. 40% phụ nữ phàn nàn về việc phải giảm đau bằng paracetamol và/hoặc chườm lạnh. Việc dùng băng quấn chặt hoặc hạn chế nước thường được khuyên thực hiện để làm ngưng tiết sữa nhưng hiệu quả chưa được chứng minh.

Thuốc lợi tiểu, estrogen, oxytocin, clomifen không có tác dụng trong việc làm đừng tiết sữa.

Các thuốc chủ vận hệ dopamin, bromocriptine (Parlodel 2.5mg và Bromocriptin 2.5mg) và lisuride (Arolac hoặc Dopergine 0,2mg) là các thuốc có tác dụng ức chế tiết sữa. Ba thử nghiệm so sánh chỉ ra rằng hai phương pháp điều trị này là tương đương.

Các chống chỉ định với thuốc chủ vận hệ dopamin là tăng huyết áp mức độ nặng, suy vành, quá mẫn với bromocriptine hoặc lisuride hoặc các thuốc vận mạch khác. Phụ nữ không nên sử dụng các thuốc này trong các trường hợp có các vấn đề về tâm lý nặng (và/ hoặc tiền sử tâm thần) và có các yếu tố nguy cơ tim mạch: Tăng huyết áp động mạch, hút thuốc lá, béo phì, bệnh mạch máu ngoại vi.

Không nên kết hợp bromocriptine hoặc lisuride với các dẫn xuất vận mạch khác của nấm ergo như ergotamine (Gynergene cafein), dihyroergotamine cũng như với các macrolide (erythromycine, jossamycine, eroxithromycine) (khuyến cáo E).

+ Chỉ định

Để ức chế tiết sữa, có thể kê 2 viên Parlodel hoặc 3 viên Arolac hoặc Dopergine trong 14 ngày, uống vào lúc 8 giờ và 20 giờ. Parlodel được uống ngay tại phòng đẻ hoặc ngay sau khi tỉnh dậy sau mổ đẻ. Dừng thuốc bằng cách giảm dân liều mỗi nửa viên. Vi dụ, 1 và 1/2 viên trong 4 ngày, sau đó nửa viên buổi sáng và tối trong 3 ngày, sau đó dùng thuốc.

+ Theo dõi điều trị

Trong quá trình điều trị cần theo dõi huyết áp động mạch mỗi sáng, tối. Nếu có tăng huyết áp động mạch, đau đầu tái diễn hoặc tất cả các dấu hiệu thần kinh khác thì cần dừng điều trị. Trong trường hợp huyết áp thấp, có thể uống ½ viên buổi sáng, ½ viên buổi trưa và ½ viên vào buổi tối. Tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa có thể gặp như nôn, buồn nôn, táo bón. Để hạn chế các tác dụng này nên uống thuốc trong bữa ăn.

Sử dụng các thuốc này làm tăng khả năng có thai lại, trong vòng 35 – 45 ngày. Cần sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả.

3.2. Khi đang cho con bú

Khi vắt sữa tự động, các chất ức chế prolactine ít hiệu quả hơn do hàm lượng trong máu của các hormon này rất thấp tạm thời. Ngưỡng điều trị gồm:

– Vắt hết sữa ở hai bên vú.

– Dùng một miếng băng đặt lên vú.

– Hạn chế nước.

Nhiều thử nghiệm chỉ ra rằng bromocriptine có hiệu quả ít nhất 24 giờ.

3.3. Cai sữa

Thời gian cai sữa phụ thuộc vào từng cá thể. Trong nhiều trường hợp, sự cai sữa đơn giản là khi trẻ đòi hỏi nguồn thức ăn khác. Khoảng 6 tháng tuổi, trẻ có thể cầm đồ vật tốt và đưa vào miệng. Nếu cho trẻ ăn mẫu bánh nhỏ, trái cây thì trẻ bắt đầu mút và ăn. Trẻ quyết định bỏ bú để ăn thức ăn khác. Trẻ giảm số lần bú, sự giảm từ từ và có thể kéo dài nhiều tháng. Sử giảm bú

sẽ làm giảm tiết sữa.

3.4. Sự cho sữa

Sữa mẹ là thiết yếu đối với trẻ đẻ non dưới 34 tuần cân nặng dưới 2kg, những đứa trẻ này có những bệnh lý về đường tiêu hóa nhất định, suy thận nặng, không dung nạp sữa bò hoặc sữa công thức do dị ứng với protein sữa bò.

-Sau khi sinh, sản phụ nên cho sữa nếu:

Lượng sữa dư thừa rõ ràng với mất sữa ở bên vú đối diện hoặc mất sữa giữa hai lần bú.

– Phải hút sữa vì căng tức.

Cho khoảng 180 – 200ml/ ngày là có thể trong vòng 1 tháng.

Để tránh sự lây nhiễm:

– Xét nghiệm huyết thanh cần làm ở người mẹ cho sữa: HIV 1 và 2, viêm gan B (HBV, HBsAg), viêm gan C (HCV). Các xét nghiệm này được thực hiện ở lần cho đầu tiên và lặp lại sau mỗi 3 tháng trong khoảng thời gian cho sữa.

– Xét nghiệm vi sinh nếu sữa có tụ cầu vàng thì phải bỏ đi.

Tiếp theo sữa được thanh trùng để giảm lượng vi khuẩn và virus nhạy cảm với nhiệt độ HIV và CMV. Sau đó được bảo quản trong nhiệt độ 0 – 4°C trong vòng 5 ngày. Sữa đông lạnh được bảo quản trong vòng 6 tháng, sữa đông khô có thể bảo quản trong 1 năm.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *